Bài đọc nhiều

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Dấu xưa cõi thiền

0 nhận xét

Dấu xưa cõi thiền
    Dấu xưa cõi thiền
    Thượng tọa Thích Viên Thanh và Phật tử.
    Tiếng rằng quen biết với nhà sư Thích Viên Thanh đã lâu nhưng quả thực là chuyện về “kho” thông điệp quá khứ đậm chất thiền nơi cửa Phật do thầy làm trụ trì – chùa Vạn Hạnh (39 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, Đà Lạt, Lâm Đồng) – có từ vài chục năm nay thì đến mãi tận vài năm gần đây tôi mới được thấy tận mắt.
    Sau đó, tôi năng đến chùa Vạn Hạnh hơn, nhưng cứ mỗi lần đến là một lần tôi có cảm giác rằng hình như mình vẫn không biết gì về dấu xưa nơi cõi thiền kia!
    Gốc gác của nhà sư Thích Viên Thanh là người Quảng Ngãi. Nhưng, gia đình ông vào “mần vườn” ở xứ Đà Lạt này từ lâu lắm rồi. Xuất gia năm 14 tuổi, là đệ tử của cố hòa thượng Thích Từ Mãn (trụ trì chùa Linh Sơn – một ngôi chùa rất nổi tiếng ở Đà Lạt); năm hơn 30 tuổi, ông theo học cử nhân Phật học rồi cao cấp Phật học tại TP Hồ Chí Minh… 
    Chất nghệ sĩ đồng hành cùng Phật sự
    “Ngày tôi về trụ trì, chùa Vạn Hạnh là một ngôi nhà tôn vách gạch nho nhỏ nằm trên đồi thông rộng bao la này. Cuối năm 1994, thiền viện Vạn Hạnh được làm lễ đặt đá xây dựng lại. Sau đó, đến năm 2002, Thích Ca Phật đài lộ thiên cao 24m và nặng trên 60 tấn được xây dựng ngay trước sân chùa” – thượng tọa Thích Viên Thanh vắn tắt vài dòng về thiền viện Vạn Hạnh nơi mình đang là trụ trì.
    Đặc biệt, tượng Phật Thích Ca niêm hoa vi tiếu (theo tích kinh điển của phái Thiền Tông) nổi tiếng này do ông chỉ đạo thiết kế và nhà điêu khắc Thùy Lam thực hiện. Nói ra điều này để thấy rằng cái “máu nghệ sĩ” trong con người nhà tu hành này dường như cũng đang song hành cùng chất nhà Phật trong Phật sự mà ông đảm đương trong mấy chục năm qua, từ chú tiểu đến đại đức rồi đến thượng tọa; từ một Phật tử bình thường đến trụ trì rồi Phó Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Lâm Đồng, Chánh đại diện Phật giáo TP Đà Lạt và đồng thời là Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Lâm Đồng hiện nay.
    Thật vậy, cái “máu nghệ sĩ” ấy “chảy” suốt chiều dài con đường Phật sự của ông, nhưng chỉ đến khi những tác phẩm nghệ thuật được công bố nhân dịp Festival Hoa năm 2010 thì mọi người mới nhận ra một “thượng tọa – nghệ sĩ” Thích Viên Thanh! Ông thổ lộ: “Tôi sưu tầm cổ vật không để trở thành một nhà sưu tầm. Tôi làm việc này đã hơn ba chục năm qua nhưng chỉ duy nhất có một mục đích là làm thế nào để lớp cháu con ta sau này biết được cha ông đã sống ra sao, đã ứng xử ra sao, đã yêu thương nhau như thế nào... mà thôi!”.
    Ông kể trong khi đưa tôi đi thăm lại gian trưng bày: “Những hơn 5.000 hiện vật, trong đó có một số cổ vật, sưu tầm được nhưng chỉ được trưng bày trong gian phòng rộng chỉ vài trăm mét vuông như thế này xem ra đã chật chội rồi đây. Do vậy, sắp đến, tôi muốn làm một điều gì đó khác hơn để... giải phóng những hiện vật này. Ước mong của tôi là sẽ hình thành ngay trong khuôn viên chùa Vạn Hạnh này một khu văn hóa Phật giáo và dân tộc; trong đó, lấy việc trưng bày các cổ vật và những tác phẩm nghệ thuật tôn giáo làm chủ đạo”.
    Bức tượng Phật Thích Ca niêm hoa vi tiếu do thượng tọa Thích Viên Thanh chỉ đạo thiết kế.
    Thông điệp từ quá khứ
    Như trên vừa nói, vài năm gần đây, thiền viện Vạn Hạnh khá nổi tiếng với tượng Phật Thích Ca “Niêm Hoa Vi Tiếu” được dựng ngoài trời, ngay trước sân chùa. Thầy Thích Viên Thanh giải thích cho tôi rõ hơn: “Bảo tượng với tay phải cầm cánh hoa sen đó bắt nguồn từ một ý trong kinh điển của phái Thiền Tông rằng khi Đức Thế Tôn cầm một cánh sen đưa lên thì cả hội chúng đều im lặng và ngơ ngác nhìn, duy chỉ có ngài Ca Díp là mỉm cười.
    Thấy vậy, Đức Thế Tôn liền nói: “Ta có con mắt của chánh pháp, diệu tâm của niết bàn, thực tướng của vô tướng, pháp này siêu việt ngôn, từ nay ta truyền trao cho Ca Díp”. Tích này được gọi là “niêm hoa vi tiếu”. Bởi vậy, Thích Ca Phật đài kia được gọi là Phật Thích Ca Niêm Hoa Vi Tiếu”.
    Thích Ca Phật đài trước sân chùa Vạn Hạnh từ khi khánh thành đến nay đã thu hút không chỉ các tăng ni, Phật tử khắp cả nước mà còn là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước với tâm nguyện chiêm bái và ngưỡng vọng. Và cũng như tôi, nhiều người đã ngỡ ngàng khi ra phía sau bảo tượng Phật Thích Ca Niêm Hoa Vi Tiếu để thăm khu trưng bày trên dưới 5.000 hiện vật do nhà sư Thích Viên Thanh và các đệ tử sưu tầm và cả việc chiêm bái các tác phẩm nghệ thuật đậm sắc thiền do nhà sư Thích Viên Thanh tạo tác.
    Bộ sưu tập trên dưới 5.000 hiện vật, trong đó có những cổ vật, của nhà chùa có thể phân định bằng chất liệu: Nhiều nhất và quý nhất là những hiện vật bằng đồng, thứ đến là bằng đá và bằng gỗ. Với bộ sưu tập đồ đồng, quá vãng của người Đà Lạt xưa, kể cả các bộ tộc thiểu số bản địa, như hiện về từ vài chục năm trước, từ vài trăm năm trước thông qua những nồi đồng, mâm đồng, cơi trầu bằng đồng, lư nhang đồng, lư đèn đồng, cồng chiêng bằng đồng... có “tuổi” từ vài chục năm đến vài trăm năm.
    Và không chỉ quá vãng của Đà Lạt mà còn hơn thế: Hồn Việt hiện về trong căn phòng trưng bày này! Những bộ cồng chiêng bằng đồng được ông dành cho sự ưu ái đặc biệt khi đặt trang trọng thành một dãy phía trái gian phòng. Tôi lần nữa nhìn lại những bộ chiêng của các tộc người thiểu số Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) được ông sưu tầm. Có chiếc có đường kính lên đến gần cả mét, tuổi những trăm năm; chiếc nhỏ chỉ vài centimet đặt cạnh mấy cái não bạt!
    “Ngoài những đại hồng chung cổ xưa có giá trị khó mà đo đếm được thì những nồi đồng con con dùng để kho cá đến “đại nồi đồng” dùng để nấu cơm vào các dịp hội làng xưa của cư dân Đà Lạt lại có những giá trị riêng, những giá trị thật khó đo đếm bằng vật chất” - ông bảo.
    Về bộ sưu tập đá, Thượng tọa Thích Viên Thanh tiết lộ: “Suốt mấy chục năm qua, bộ sưu tập đá thạch anh này yên vị sau mấy cánh cửa thường xuyên đóng khóa. Đến năm 2010, nhân Festival Hoa Đà Lạt, nhà chùa mới mở cửa kho đá quý để giới thiệu với công chúng”.
    Việc “trưng bày” năm ấy cũng chỉ là giới thiệu một phần rất nhỏ của kho đá quý mà Vạn Hạnh đang sở hữu. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không chỉ nằm ở chỗ những viên đá ấy quý như thế nào (đá thạch anh) và số lượng đá trong “kho” ấy nhiều đến mức nào (hàng ngàn viên) mà chính là “ý tưởng nghệ thuật” của những tác phẩm do ông tự tạo hoặc nương vào tự nhiên mà sáng tác.
    Thiên nhiên thật kỳ diệu: Trong các tác phẩm đá tự nhiên trong “kho” của chùa Vạn Hạnh, ngoài những viên đá có hình các chữ “nhân, tâm, đức, ngộ, nhẫn...”, đáng kể còn là một viên đá có hình đức Phật Thích Ca với những đường vân rất đẹp. “Tìm được đá cũng là cái duyên vậy! Khối đá có những đường vân và màu sắc tạo thành hình đức Phật Thích Ca được tôi tìm thấy giữa một vùng rừng núi giáp ranh hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận.
    Tôi không “săn lùng” như những người chơi đá cảnh mà chỉ luôn giữ được tâm niệm trên con đường sưu tầm của mình để có được những tác phẩm mang chất thiền mà thôi. Khối đá có hình đức Phật Thích Ca nằm đó trước bàn chân qua lại của nhiều người nhưng đến lượt tôi ngang qua, tôi bỗng cảm thấy cần phải nhẹ bước bởi dường như chốn này có điều gì đó rất lạ. Và thế là khối đá “hiện lên” trong mắt tôi như bước ra từ cõi thiền” – ông kể.
    Không dừng lại ở việc sưu tầm đá, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh Thích Viên Thanh còn tạo tác không ít tác phẩm nghệ thuật từ đá như “Tượng Quan Âm”, “Anh hùng tương ngộ”, “Bản đồ Việt Nam”, “Tâm”, “Nhẫn”...
    Về gỗ, ngoài những tác phẩm nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo do tự nhiên chế tác, trong nhiều năm qua, thượng tọa Thích Viên Thanh cũng đã sáng tác nhiều tác phẩm từ vỏ thông, từ gốc rễ các loại cây như các tác phẩm “Bồ đề Đạt Ma”, “Phật thành đạo”... Cũng bằng chất liệu gỗ, ông hiện đang tạo tác “Đức Phật nhập niết bàn” với quy mô dài 8m theo dáng tượng Phật nằm. “Có thể, “Phật thành đạo” sẽ là tác phẩm trung tâm khi khu vườn văn hóa Phật giáo và dân tộc theo ý nguyện của tôi được hình thành nay mai trong khuôn viên Vạn Hạnh” – thượng tọa Thích Viên Thanh tiết lộ trước khi tôi chia tay thiền viện Vạn Hạnh để “xuống núi”.
    Cùng với các tác phẩm nghệ thuật đậm màu sắc thiền thì những bộ sưu tập đồ đồng, đồ đá và cả đồ gỗ của chùa Vạn Hạnh cũng đang chứa đựng rất nhiều những thông điệp của quá khứ, những thông điệp đang cần mọi người, nhất là các tăng ni, Phật tử và cả du khách khi đến Đà Lạt quan tâm khám phá, để thấy lòng mình thư thái bình an, khám phá để nhận diện những giá trị văn hóa dân tộc như dòng suối chảy từ quá khứ nguồn cội đến hiện tại và trải đến tương lai...
    Read more...

    Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”

    0 nhận xét
    Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”
      Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”
      Thiền sư Pháp Hạnh
      Một chị bạn đồng nghiệp nói với tôi, bằng tất cả lòng thành kính, rằng có một nhà tu hành đã vẽ hàng trăm bức tranh, rằng trong một đêm thầy vẽ cả trăm bức, mà không bán, không bày, chỉ để cho, để tặng. Chị tha thiết mời tôi đến xem như thể để chứng giám điều thần kỳ này. Nhưng trót là hoạ sĩ, tôi ít hào hứng trước những “kỷ lục” của hội hoạ. Lần lữa mãi, nhưng rồi cũng phải chịu thua trước lòng hâm mộ của chị.
      Và, thật bất ngờ, tôi được hội ngộ với một con người giản dị, bình an được ngắm nhìn những bức sơn dầu theo khuynh hướng trừu tượng không hề nghiệp dư chút nào. Câu chuyện của tôi với nhà tu hành, thiền sư Pháp Hạnh dường như không có nhiều màu sắc tôn giáo. Màu sắc của hội hoạ mới là chủ đề chính. Rồi từ đó, một thế giới mới mẻ được phát lộ, xoá nhoà mọi ý niệm vốn có của đạo pháp của cuộc đời.
      Quan niệm của thiền sư Pháp Hạnh về nghệ thuật về sự giải thoát gần gũi với cuộc đời hơn là sự huyền diệu bí ẩn nơi cửa Phật. Ông nhìn cuộc đời như đứa trẻ lần đầu nhìn thấy, có lẽ bởi vậy tranh ông có cái bản năng nguyên khôi như tranh trẻ thơ đùa bỡn với sắc màu.
      Xuất gia từ năm 14 tuổi, đã từng tu tập tại Miến Điện và Ấn Độ theo môn phái Mật tông Tây Tạng, nhưng trong câu chuyện, những giáo lý nhà Phật được ông diễn giải thật giản đơn, dễ hiểu. Ông giống như một nghệ sĩ hơn là nhà tu hành. Tôi hỏi ông lý do gì dẫn ông vào hội hoạ, ông cười rồi nói ngay:
      - Sự chuyển động trong tâm thức đã xui khiến tôi dùng sắc màu để mô tả. Nó đồng hành với chuyển động của trời đất của thiên nhiên. Tôi vẽ bằng cõi vô thức được hình thành qua rất nhiều ý thức. Và hình như bản chất của hội hoạ là vậy chăng.
      Bản chất của hội hoạ, theo tôi là con đường tìm về bản ngã chứ không phải đến cái vô ngã của đạo Phật. Vậy có gì là mâu thuẫn giữa hai mục đích đó trong cử chỉ hội hoạ của ông?
      - Chẳng có gì là mâu thuẫn cả, bản ngã chỉ là một phần triệu trong vô ngã. Tôi vẫn nghĩ hội hoạ đến ngưỡng cuối cùng chính là vô ngã. Người nghệ sĩ nào cũng đi trên con đường tìm về bản ngã để bộc lộ rõ nhất cá tính của mình, nhưng khi đã vẽ với tinh thần vô thường, không cần để chứng tỏ, cũng không cầu xấu, đẹp thì sẽ đạt đến cảm xúc vô ngã.
      Vậy, với ông, hội hoạ chỉ là phương tiện, là “pháp” để đi đến cảnh giới vô ngã?
      - Tôi không nghĩ cái gì là phương tiện, cái gì là mục đích. Tôi vẽ giống như hơi thở, như sự vận động không ngưng nghỉ để khám phá bản chất của tâm thức, loại trừ mọi chất bẩn còn tồn ứ. Và đấy cũng là một phương pháp tu tập.
      Để đi đến giải thoát?
      - Không, để đến với tự do.
      Vậy bản chất của tự do là gì, thưa ông?
      - Là buông bỏ, nhưng không phải buông bỏ quá khứ cũng không buông bỏ hiện tại. Buông bỏ những gì là tham sân si để rộng lòng tay đón nhận tương lai, đón nhận hiện tại một cách trọn vẹn nhất, không bị giam cầm bởi bất cứ chủ thuyết nào.
      Điều này hình như Osho cũng từng nói trong những cuốn sách của ngài. Ông có tâm đắc với Osho?
      - Osho là một trí tuệ lớn đáng khâm phục. Nhưng ngài vẫn thiếu một chút bao dung.
      Nói đến đây, ông bỗng dừng câu, lặng im một chút rồi ông kể: Có một đứa nhỏ, nhỏ lắm, đi bán vé số bị một bác xe thồ đụng ngã. Cả hai đều vội vã thu nhặt vé số vung vãi trên đường. Đứa trẻ bỗng lên tiếng rằng: “Con không sao đâu, bác cứ đi làm đi kẻo lỡ việc. Con tự nhặt được và cũng chỉ xây xát nhẹ thôi”. Ông bảo đứa bé đã dạy ông về lòng bao dung hơn cả ngàn trang sách. Và cũng đúng lúc đó ông bỗng nhìn ra một dải nắng vàng, trong suốt. Dải nắng đó đã theo ông vào những bức tranh mà đôi lúc ông tưởng như không phải ông đang vẽ mà đứa nhỏ kia mới là tác giả.
      Vậy mà ông lại vẽ theo khuynh hướng trừu tượng. Trong hội hoạ có tư duy trừu tượng mới có bút pháp trừu tượng. Và rằng phải có rất nhiều hiện thực mới có được tư duy trừu tượng. Nhưng với một nhà sư, ít va chạm với thực tế đời sống, như thế có dễ dàng hay khó khăn để đến với hội hoạ trừu tượng?
      - Tôi tìm thấy bình an trong hội hoạ và tôi mang sự bình an đến với mọi người. Tôi không định nghĩa đó là trừu tượng hay hiện thực.
      Tranh sơn dầu của thiền sư Pháp Hạnh.
      Nhưng ít nhất cũng phải có một thái độ trước một hiện thực khiến nhiều người bất bình, ví dụ như khoảng cách giàu nghèo như sự bất công, hoặc cái ác vẫn hiển nhiên tồn tại, thưa ông?
      - Sự cảm hoá của nghệ thuật là vô cùng lớn lao, hãy vẽ, làm thơ hay nhạc bằng tất cả sự thiện tâm của mình thì xã hội sẽ nhìn rõ hơn thiện, ác. Trong những điều răn dạy của Phật, có một điều mà tôi luôn tâm đắc, đó là hãy hết lòng yêu tổ quốc của mình cho dù còn có những căn bệnh phải mổ xẻ. Hãy yêu như yêu cha mẹ mình cả những khi người cha người mẹ đôi lúc cũng phạm lỗi. Tôi nghĩ tất cả mọi tôn giáo đều có chung ý nghĩa tối thượng này.
      Và có chung một khái niệm về thiên đường hoặc cõi niết bàn?
      - Thiên Chúa giáo dạy bảo con người lòng vị tha, sống tốt đời đẹp đạo để khi chết sẽ được lên thiên đàng. Phật dạy con người quy luật nhân quả và cõi niết bàn ở ngay chính trần gian này, ngay chính lòng mình. Mỗi người là một thế giới và Phật tính tại tâm.
      Nhiều người cho rằng nghệ thuật hay tôn giáo chính là con đường để con người trốn chạy nỗi cô đơn. Tôi không tin lắm vào điều này, bởi là một hoạ sĩ, chỉ khi cô đơn nhất mới có được tác phẩm. Với ông, trong thế giới tâm linh, sự cô đơn có ý nghĩa gì không?
      - Niết bàn chính là sự cô đơn tuyệt đối. Nhưng chớ nhầm giữa cô đơn và cô độc. Chỉ có sự cô đơn mới thanh lọc được tâm thức mình. Còn cô độc là nỗi bất hạnh của lòng ích kỷ.
      Nghe ông nói vậy, tôi bất giác ngắm kỹ những bức tranh treo đầy căn phòng ông đang ngồi. Hầu hết là những hoà sắc đầy ngẫu nhiên không thấy sự đắn đo, cân nhắc. Cũng không thấy buồn vui. Tất cả đều lặng lẽ trôi chảy như dòng đời vốn thế. Tôi trộm nghĩ phải cô đơn lắm mới có những sắc màu vô thức như vậy. Rồi những bức tranh sẽ trôi về đâu? Nhưng điều đó chắc không quan trọng. Cái có ý nghĩa hình như không nằm ở trên từng bức mà nó là sự vận động âm thầm ngoài tranh, nhắc cho người ta về lẽ vô thường của đời sống. Và chính điều này là chỗ gặp gỡ giữa nghệ thuật và tôn giáo.
      Trò chuyện với ông, tôi biết ông rất yêu cuộc đời này, nhưng vẫn khắc khoải một câu hỏi trong tôi rằng: Lẽ nào một khối óc minh mẫn, một trái tim nhạy cảm, một tấm lòng bao dung lại tìm đến nỗi cô đơn tuyệt đối để chiêm nghiệm sự thanh sạch của chính mình. Thì ra chúng ta, cả tôi nữa, quá thiếu đức tin để thấu hiểu cuộc hành trình của ông. Ông tự tìm đến tự do chứ không hưởng thụ tự do. Và như thế, trách nhiệm với cuộc đời của ông lớn hơn tôi quá nhiều.
      Read more...

      HỌ ĐÃ KHỎI BỆNH “THẦN KỲ” RA SAO?

      0 nhận xét

      Họ đã khỏi bệnh “thần kỳ” ra sao?

      GẶP NGƯỜI ĐÀN BÀ DÙNG THIỀN ĐỊNH MỞ LUÂN XA CHỮA BỆNH CHO 6 VẠN NGƯỜI


      Họ đã khỏi bệnh “thần kỳ” ra sao?
      Đông đảo người ngồi thiền và học thiền tại nhà bà Thu.
      Sau vài tháng luyện tập kiên trì, tôi đã dần khỏi hết những bệnh đã kể ở trên. Tất cả bệnh tật của tôi trước đây có bệnh án, có kết quả xét nghiệm và giấy tờ liên quan về quá trình điều trị của các bệnh viện trung ương tại Hà Nội; giờ đi đến chính những nơi điều trị đó xét nghiệm lại, thì thần kỳ thay, không còn chứng bệnh nào tồn tại. Chỉ có điều tôi phải duy trì niềm vui ngồi thiền hằng ngày của mình, dừng tập là bệnh có thể ập đến.

      Người trong cuộc

      Tôi không định tự chứng minh để thuyết phục ai đó theo môn học này, chỉ đơn giản là tôi khỏi bệnh. Nhiều người, trong đó có cả nhà sư và các mục sư theo học, nhưng trong số 60.000 học viên của bà Thu, nhiều nhất vẫn là người nghèo. Bởi đi bệnh viện là con đường nhanh nhất, ngắn nhất để người ta đi đến tán gia bại sản, khánh kiệt mọi nhẽ. Trong khi môn học này không yêu cầu người bệnh phải nộp bất cứ cái gì, trừ tấm lòng thanh sạch, niềm tin vào môn học và sự kiên trì luyện tập, rũ bỏ tất cả để tịnh tâm ngồi thiền.

      Hơn 4 năm theo học, tôi đã chứng kiến nhiều người khỏi bệnh một cách thần kỳ. Hơn chục người tình nguyện đến ở tại nhà bà Thu để phụ giúp bà truyền dạy môn học, hầu hết là người từ cõi chết trở về. Tôi đã gặp nhiều bạn mới, nhiều người quen cũ ngay tại nhà bà Thu. Trong đời đi làm báo lang thang, tôi cũng đã gặp nhiều người dựng ở góc trang trọng bức ảnh tiến sĩ y khoa Đasira Narada bé xíu (bà Thu cấm phóng to) rồi nghe họ kể về lòng tốt của bà Thu cũng như sức mạnh của môn học. Tổng số học viên của bà Thu đến nay ước tính khoảng hơn 60.000 người.

      Năm 2012, tại Đắc Lắc, lần đầu tiên một hội thảo về tâm năng dưỡng sinh, trường sinh học với sức khỏe con người, quy tụ hơn 200 đại biểu bao gồm nhiều giáo sư, tiến sĩ và nhà khoa học được tổ chức. Bà Thu là Phó Chủ tịch Hội Tâm năng dưỡng sinh tỉnh Đắc Lắc, với cả đời “phát tâm làm việc thiện” đã được giới khoa học đánh giá cao và khẳng định cách chữa bệnh của bà là một vấn đề hết sức khoa học, nó là một thực tế đáng ngạc nhiên.

      Hiện nay, nhiều học viên của bà Thu đang được ông Nguyễn Thanh Nam (59 tuổi) ở Phú Phong, Tây Sơn (Bình Định) thay mặt “cô” truyền dạy và trực tiếp khai mở huyệt đạo. Ông Nam khỏe; nhưng ít ai biết rằng ông từng bị bệnh nan y liên quan đến phổi, ho ra máu trong thời gian dài, nhờ luyện tập đã lành bệnh.

      Bản thân bà Thu cũng rất tâm đắc với niềm vui sống sót từ bệnh tật “y học bó tay” của ông Cao Xuân Tiến (58 tuổi) bị ung thư phổi, viêm đại tràng rất nặng, nhờ luyện tập nay đã khỏi hẳn và đang tham gia giúp đỡ người khác ở câu lạc bộ trường sinh học ở quê nhà. Ông Cao Xuân Tiến nhiều năm là cán bộ giữ rừng có uy tín ở Ea H’leo, tỉnh Đắc Lắc. Ông từ cõi chết trở về và muốn tri ân cuộc đời qua việc giúp đỡ người khác bằng cách tập tâm năng dưỡng sinh trị bệnh.

      Ông Tiến cho biết: “Tôi là thành phần bệnh nặng đến mức bệnh viện bó tay rồi. Thận, gan, dạ dày, đại tràng đều sắp... hỏng hết. Đi khắp bệnh viện ở Đắc Lắc, Sài Gòn, rồi cả Viện Ung bướu TPHCM... Tôi kiên trì theo học, thế mà từ bấy đến nay, sống khỏe được 7-8 năm rồi. Tôi phát động cả nhà tôi theo môn học này. Con gái tôi bị bướu đa nhân ở họng, BV phát hiện và kết luận rất đáng sợ. Con tôi theo học, bây giờ khỏe mạnh, có chồng có con rồi”.

      Ngỡ mình được uống “thuốc tiên”

      Tôi vào Bình Định, ngồi thiền cùng ông Cao Đình Vinh - người An Nhơn, Bình Định (61 tuổi) - cũng mắc bệnh nặng đến... hết thuốc chữa. Gan của ông đã bị xơ, bị chai đi rồi, chỉ ít ngày nữa là gan không còn hoạt động, hoặc chuyển sang ung thư gan di căn. BV Chợ Rẫy trả về, cơ may sống sót chỉ còn hy vọng... mong manh. Qua luyện tập, hết sức bất ngờ là đến nay ông Vinh đã sống thêm được 8 năm, hiện đang khỏe mạnh, giúp bà Thu chữa bệnh cứu người tại Hội Vân.
      Bà Thu mở và hướng dẫn mở huyệt đạo cho học viên.

      Đặc biệt nhất trong số những người được phương pháp luyện tập màu nhiệm này cứu giúp, có lẽ phải là chị Hoàng Thị Vũ, nhà ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Sinh năm 1977, làm nghề buôn bán nhỏ đang phát đạt và yên bình, bỗng dưng cô Vũ lên cơn đau xương, đi khắp viện ở Quy Nhơn, TPHCM, thì người ta mới phát hiện ra bị ung thư tủy. Khi Trung tâm Huyết học ở TPHCM “trả về”, Vũ kiệt quệ cả tâm lẫn sức. Chân Vũ không đi được nữa, người nhà phải bế khi mang Vũ đến gặp cô Thu.

      Sau một tháng khai mở huyệt đạo, luyện tập âm dương, Vũ có thể đi lại được. Nhưng bệnh ung thư tủy đã làm xương cô rệu rạo, hai khớp háng bị thoái hóa không thể cử động nâng giơ chân lên hoặc hạ chân xuống được. Cô không thể ngồi thiền theo phương pháp truyền thống, mà phải ngồi trên ghế, xoạc chân ra... để thiền. Cả lớp học, cả gia đình và khu dân cư xôn xao: Chị Vũ có thể đi lại được sau 1 tháng luyện tập.

      Đã 7 năm trôi qua, cô vẫn sống khỏe! Vũ nói: “Bệnh án của tôi ghi rõ ràng là suy tủy, ung thư tủy. Thỉnh thoảng tôi vẫn phải trực tiếp gặp cô Hồ Thị Thu nhờ phụ (chữa) bệnh thông qua năng lượng trong người bà. Nhưng khi tôi ngồi thiền 2 tiếng/ngày thì tôi khỏe hơn nhiều. Nhưng bệnh quá nặng, thỉnh thoảng vẫn mệt mỏi nhiều, tôi quyết tâm ngồi thiền 3 tiếng/ngày thì sức khỏe rất tốt. Hễ tôi chuyển xuống ngồi 2 tiếng/ngày là sức khỏe lại suy giảm, ăn uống kém, đầu óc kém linh hoạt. Điều đó cho thấy, thiền đối với tôi là sự sống. Và niềm tin, tinh thần tập luyện là do chính mình tạo ra, không có ai giúp được mình hết. Ở đây là một khoa học, một sự công phu, chứ không có “phép màu” nào cả”. 

      Không nhận bất cứ sự trả ơn nào. Chúng tôi đã nhiều lần muốn đóng góp gì đó cho bà Hồ Thị Thu - người đem toàn bộ nhà cửa, đất đai ruộng vườn nhà mình ra làm trường tập thiền cho người cả nước; người hiến dâng toàn bộ phần đời còn lại của mình cho những tận khổ vì bệnh tật mà không đòi hỏi bất cứ sự trả ơn nào, kể cả lời tri ân nhỏ nhẹ nhất. Ngày giỗ tổ sư môn học, bà cũng không cho tổ chức linh đình: Mỗi người được phép góp 2.000 đồng mua mấy cái bánh ngồi liên hoan với nhau. Bất cứ quà cáp nào bà cũng không nhận, với lý do bà ăn chay trường, không dùng gì cả ngoài gạo lức nấu cơm hoặc rang khô ăn, sau đó uống nước hoa quả (mà hai thứ đó thì nhà bà, vườn bà rất sẵn).

      Ngồi thiền đúng cách. Bí quyết chiến thắng bệnh ung thư của bà Hồ Thị Thu chỉ đơn giản là ngồi thiền hằng ngày và được  mở luân xa đúng cách. Trước khi ngồi thiền, hai bàn tay xòe ra, 4 đầu ngón tay chụm lại, ngón tay cái quặp lại đặt lên đầu gối. Hít vào bằng mũi thật sâu, thở ra bằng miệng thật sâu đủ 3 lần trong tư thế ngồi thiền kể trên (trước khi kết thúc buổi thiền, cũng hít vào thở ra theo phương pháp đó, số lần đó, y như lúc bắt đầu). Sau đó, chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối. Cơ thể tự vận hành theo cơ chế của nó. Suy nghĩ tập trung vào hệ thống luân xa, có thể là lấy khí lành vào qua luân xa số 6 ở trước trán rồi để cơ thể vận động các nguồn khí nhằm đào thải ra khí độc. Tùy theo bệnh tình của mỗi người mà cố gắng vận khí vào một “cửa luân xa” ở một trong 6 vị trí đã quy định của cơ thể người. Người học còn được hiểu về lịch sử ra đời môn học này, với ông tổ là tiến sĩ y khoa Đasira Narada - một con người thành đạt và thông tuệ người gốc Sri Lanka.
      Read more...

      Gặp người dùng thiền định mở luân xa chữa bệnh cho 6 vạn người

      0 nhận xét


      Gặp người dùng thiền định mở luân xa chữa bệnh cho 6 vạn người
      Gặp người dùng thiền định mở luân xa chữa bệnh cho 6 vạn người
      Bà Hồ Thị Thu.

      Bà Hồ Thị Thu (58 tuổi, người ở thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định) mỗi ngày dùng đến gần chục tiếng đồng hồ để ngồi thiền. Bà ngồi bất động, muỗi đốt no bụng máu rồi lặng lẽ bay đi hay rụng xuống xung quanh, bà cũng kệ. Cháy nhà chết người xung quanh, bà cũng kệ.

      Bà bảo, sách viết, người Ấn Độ nói, kẻ nào mỗi ngày ngồi thiền dăm ba tiếng đã được xem như cái gì đó giống như “Phật sống” rồi. Bà có thể ngồi im như tượng cả ngày, các luân xa (huyệt đạo) khai mở, bà đang tự chữa bệnh cho mình và tính đến nay đã chữa bệnh cho hơn 6 vạn người trong xã hội. Cái phương pháp chữa bệnh đó đã được thế giới biết đến không ít. Bà chỉ nặng lòng hơn, chỉ quyết liệt và đắm say hơn để quên thân xác mình, quên tất tật mọi thứ của đời mình, mà hiến dâng vì hạnh phúc cho những người cùng bệnh, cùng khổ.

      Người ta khỏi bệnh, thấy lối trị bệnh ấy sao mà “màu nhiệm” đến khó tin, người nọ mách người kia. Lúc nào cũng có hàng trăm người đến nhà bà xin được học thiền trị bệnh, có hàng đoàn người nô nức đến chắp tay bà tạ ơn cứu mạng, bà chỉ mỉm cười nói một câu hài hước bằng tiếng xứ Phù Cát vô cùng khó nghe…

      Rồi bà lặng lẽ cầm danh sách những bệnh nhân mới đến, đôn đáo đi tìm công an Cát Hiệp để đăng ký tạm trú. Chứ hễ kê sót trường hợp nào là người ta đến xử phạt nặng lắm. Năm ngoái (vì bệnh nhân đến lúc nửa đêm, không kịp khai báo), chồng bà là ông Võ Ngọc Anh đã phải bán một lứa lợn lấy tiền nộp phạt.

      Bà Thu hiện là Phó Chủ tịch Hội Tâm năng dưỡng sinh tỉnh Đắc Lắc, bà đi khắp cả nước trị bệnh cứu người miễn phí.

      Thuê xe ôtô 45 chỗ, cả làng vào suối nước nóng xin học thiền

      Bà Thu bảo (và người viết bài này cũng là người đã 4 năm theo môn phái thiền chữa bệnh của bà, từng đi theo bà mở lớp chiêu sinh, nên biết rất rõ) bà đã từ cõi chết trở về với căn bệnh ung thư phổi, đã di căn sang gan, đã suy tim, suy thận mạn, bệnh viện trả về để chờ mai táng từ cách đây hơn 20 năm. Thế nên, sau khi được tiếp cận với môn học trong 21 tháng 14 ngày liên tục tại tỉnh Bình Dương, thấy mình được sống, đã sống khỏe suốt 23 năm qua (!) - bà đã coi như mình nợ phương pháp chữa bệnh “thần kỳ” này một kiếp sống.

      Cô Hồ Thị Thu sắc sảo, tảo tần bán gạo nước lẻ tẻ kiếm ăn lần hồi ở xã Cát Hiệp cát trắng như tuyết năm xưa xem như đã chết. Người đàn bà ngồi im như tượng Hồ Thị Thu bây giờ, tóc bạc rồi, thỉnh thoảng lại thổ ra một bụm máu tươi do bệnh ung thư phổi chưa bao giờ khỏi hẳn – đã có một kiếp sống khác. Bà là một tín đồ của môn học kia. Thầy đã trao cho bà sự sống, bà xuống núi và đi khắp nhân gian trao truyền bí quyết cứu rỗi đồng loại đó, bà sẽ tình nguyện làm điều này cho đến hơi thở cuối cùng.

      Tính đến nay, hơn 6 vạn người trên khắp cả nước, từ Bắc chí Nam, lên Tây Nguyên, dọc miền Trung đã tìm đến bà Thu để học thiền. Bà từng mở lớp với nhiều… tổng biên tập báo; lớp ở Quảng Nam thì toàn… công an. Lớp ở Đắc Lắc, Bình Định thì đủ thành phần, trong đó lãnh đạo tỉnh cũng kha khá. Người viết bài này, trong lúc bệnh trọng, khó tin là mình có thể tiếp tục sống sót, đã theo một lớp bà Thu dạy khai mở huyệt đạo rồi ngồi thiền ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, đến nay bệnh đã cơ bản được khống chế.
      Đông đảo người ngồi thiền và học thiền tại nhà bà Thu.

      Lúc đầu, ở thị trấn Đông Phú và xã Sai Nga trong huyện Cẩm Khê có vài người bệnh nặng, thuốc tây thuốc ta bó tay, họ nghe đồn có “cô Thu” ở Phù Cát chữa bệnh mà chả dùng thuốc thang gì, không thu đồng nào của người học, không nhận tiền cảm ơn của người khỏi bệnh. “Chỉ việc ngồi im như tượng là xong” - một người tặc lưỡi nói vẻ hài hước. Thế là không còn đâu bấu víu, không còn gì để hy vọng, họ có bệnh thì… vái bừa đi.

      Họ bắt xe khách vào Phù Cát. Giữa suối nước nóng Hội Vân nóng 85 độ C. Ngâm gà xuống một lúc là chín, thả trứng sống nhúng xuống là ăn ngon lành, họ được dạy ngồi thiền. Thiền trong vườn điều xanh ngát, trong khi chồng và con cô Thu vẫn loanh quanh xách bình thuốc sâu đi chăm sóc hoa màu, vẫn nuôi gà lợn như bất cứ nông hộ nào khác. Họ tự bỏ tiền ra nuôi sống cái dạ dày mình, mỗi tháng đóng vài nghìn đồng tiền cho người cháu của bà Thu trả cho cán bộ quản lý điện nước khi người ta đến thu. Tuyệt nhiên không mất gì nữa. Và nhiều người đã khỏi bệnh.

      Bà con choáng váng. Có nguyên lãnh đạo huyện Cẩm Khê, người nhà đương kim lãnh đạo huyện, hiệu trưởng nhà trường, giáo viên, cán bộ các ban ngành cùng tham gia học thiền. Dần dà đông quá, bà con thuê cả những chiếc xe khách 45 chỗ đi trọn gói vào xã Cát Hiệp tìm “cô Thu” nhờ “dang tay độ thế”. Số người học đông quá, tính kỹ ra, mỗi người phải mất tiền triệu, vài triệu, thậm chí cả chục triệu nếu đi máy bay và ở nhà nghỉ.

      Bà Thu ngẫm thấy thương, thấy quyến luyến, và bà nghĩ, tại sao mình không đi tàu bay ra ngoài Hà Nội, bắt xe khách lên Cẩm Khê dạy cho bà con? Một chuyến đi của “cô” sẽ giúp cho bà con mình đỡ tốn hàng trăm, đến năm sáu trăm triệu đồng.

      Khắp cả Việt Nam, cứ thấy ai lấy một xu của người học, thì kẻ đó không phải đệ tử của “cô Thu”

      Khi bà Thu có mặt, tôi cũng là vị khách duy nhất lặn lội từ thủ đô theo học. Lúc ấy phần vì túng quẫn với sự bế tắc của bệnh tật: Hở van tim, hay ngất vặt, dạ dày bị phù nề xung huyết, uống thuốc nhiều sinh ra sỏi thận với các cơn đau thận cấp phải đi cấp cứu, đấy là chưa kể bệnh trào ngược cực kỳ khó chịu, kèm theo các hệ lụy liên tục gây mất tiếng nói, đau rát cổ xuyên ngày đêm, vai cổ gáy lúc nào cũng đau như bị tra tấn. Đôi lúc người đơ ra như tượng, đau đến mức đã ngồi thì ngồi im và không tự nằm xuống được; đã nằm thì nằm im không tự ngồi lên được. Thuốc tây và các đơn kê bừa bãi của bác sĩ làm bệnh của tôi ngày càng nặng, bệnh nọ bị hậu quả của thuốc tây làm cho xọ sang bệnh kia, đặc biệt là triệu chứng trầm cảm, liên tục muốn tự tử hoặc giết người mỗi khi phẫn uất.

      Bấy giờ, tôi nghĩ một cách hoài nghi: Học cũng chẳng mất gì, biết đâu “phúc chủ lộc thầy” nó lại khỏi bệnh. Hoặc ngồi im như tượng, thoát khỏi tục lụy trần gian một thời gian, có khi bớt stress, tự cơ thể mình hàn gắn vết thương cho mình. Hoặc giả dụ bà Thu có phù phép ma tà vô lý quá, thì cũng được… cái phóng sự đích đáng!

      Bờ sông Hồng hun hút gió, những rặng xoan chín mọng thơm ngòn ngọt rụng quả xuống lối quê rồi quả xoan ủng lên men hoài nhớ... Sương lơ mơ phủ dọc con đê sông Hồng, cái rét của năm 2008 ấy như cắt da cắt thịt. Bàn tọa và đùi người học thiền cứng như đá vì máu tụ, vì lạnh cóng của cái nền nhà kho hợp tác xã ẩm thấp. Hàng trăm người tụ tập xem cô Thu, cô dẫn theo một số môn đệ đã qua học “cấp 3” (cấp cao) trong môn học để phụ giúp cô truyền dạy, mở huyệt đạo cho học viên mới. Nam có, nữ có, già có, trẻ có, tất cả đều mang phong cách của nhà Phật.

      Lặng lẽ và nhân từ, không khoa trương, cũng không cố làm ra vẻ giản dị. Người tụ tập đông đến mức, trước đó, những người tổ chức đón “cô Thu” ra Cẩm Khê đã phải báo cáo, xin phép chính quyền bằng văn bản và được sự đồng ý cẩn thận. Chúng tôi nghe giảng, bà Thu nói suốt từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối, từ tối đến khuya. Lý do là người theo học quá đông, thay vì mở một lớp như dự kiến, bà phải mở ba lớp sáng, chiều, tối.

      Khóa học kéo dài một tuần, vừa lý thuyết, vừa thực hành ngồi thiền cùng bà Thu; rồi bà Thu và các “tông đồ” trực tiếp mở luân xa trên đỉnh đầu, trước trán, dọc sống lưng mỗi học viên. Người ta có 7 luân xa, bà Thu chỉ có quyền năng mở 6 luân xa. Bà ngồi thiền chăm chỉ hơn học viên, một là để gương mẫu, hai là hằng ngày hằng giờ bà vẫn phải ngồi như tượng để tự cứu mình khỏi đủ thứ bệnh nan y khác.

      Chúng tôi học suốt một tuần, bà Thu giảng say sưa, nói như thổ huyết ra, nói trong nước mắt về những trải nghiệm chết lâm sàng của mình; rằng tôi là hồng nhan bạc mệnh thế đó, rồi tôi đi học thiền trong… nghi ngờ, được chăng hay chớ. Thế rồi tôi thoát án tử hình ung thư, cả làng cả nước đến xem tôi, họ tưởng tôi là hồn ma hiện về. Bà khuyên các học viên cần có tâm thế rũ bỏ, hỉ xả, từ bi, tha thứ, bớt tham sân si đi. Tất cả bệnh tật từ cái việc con người ta ham hố, không thanh thản, không cho đầu óc mình được nghỉ ngơi mà ra.

      Lúc ngồi thiền, cần tập trung “quán tưởng”, từ bỏ hết mọi lo toan thường nhật, hãy nghĩ đến môn học, nghĩ đến tấm gương “ông tổ môn học”: Tiến sĩ y khoa Đasira Narada - một con người thành đạt và thông tuệ, người gốc ở Sri Lanka, người từ bỏ quyền quý tột đỉnh để vào hang núi, vào mênh mông sa mạc tuyết trắng ngồi thiền suốt 18 năm, tìm cách mở luân xa cho mình và bí quyết (chìa khóa, tần số) khai mở giúp người khác. Nghĩ đến một lối sống thanh thản, vị tha, hiến dâng cho cộng đồng, bà Thu đặc biệt không bao giờ chấp nhận lấy tiền, hay quà gì của bất cứ ai. Bà bỏ tiền ra thuê nhà nghỉ rẻ tiền ở phố huyện để dạy thiền, “tiết kiệm vài trăm triệu cho bà con” khỏi phải đi hơn nghìn cây số vào Phù Cát theo học.

      Nhiều bô lão (hầu hết người học thiền là người già) đem rau cỏ thịt thà đến, bà Thu từ chối, “con nhận của cô, thì chẳng lẽ không nhận của người khác? Coi như hôm nay con đã nhận của cô, từ mai cô đừng mang cho con nữa nhé”. “Thôi, con trả rau và cá cho bà, chỉ xin bà cho con cái rổ nhựa này, con vẫn đi mua rau, nhưng chưa kịp mua rổ. Thịt cá thì con ăn chay trường, thiết gì cái đó, các cụ cầm về giúp con”.

      Bà Thu tuyên bố ở tất cả các lớp học: Tôi dạy thiền giúp đời, cũng là để giúp tôi thực hiện lời tâm nguyện với thầy tôi, với môn học đã cứu sống tôi. Cả nước này, có nhiều cơ sở do đồng môn, hoặc học trò của tôi đang dạy. Nhưng có một cách để kiểm tra xem người ta có phải là người của môn phái tôi, học trò tôi hay không, hỏi rằng họ có thu tiền của học viên hay không! “Cô Thu” và môn đệ của cô, thề với trời đất, nói sai thì trời tru đất diệt, không bao giờ tôi lấy tiền/quà của người bệnh, của học trò, dưới bất cứ hình thức nào. Chúng tôi làm việc vì cái tâm, vì lòng biết ơn môn học. Nó rất khoa học, không có gì dị đoan, tà đạo hay thần bí cả.

      >> Bài cuối: Họ đã khỏi bệnh “thần kỳ” ra sao?
      Read more...

      Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

      LÝ GIẢI VỀ NGOẠI CẢM

      0 nhận xét

      Lý giả về ngoại cảm: Tiềm thức khai mở khả năng đặc biệt
      Nhà khoa học Vũ Thế Khanh tại một buổi hội thảo.Các nhà ngoại cảm có khả năng thực sự tìm được mộ và tìm chính xác chiếm khoảng 60%. Có nhà ngoại cảm còn tìm chính xác đến 81%. Tuy nhiên, việc lý giải hiện tượng kỳ lạ này dường như vẫn là một chân trời rộng mở vô biên, không bờ bến…Hiện tượng các nhà ngoại cảm có khả năng tìm mộ là rất đặc biệt, kỳ dị, thậm chí khả năng cũng như con người họ dường như đã bị bao phủ bởi màn sương huyền bí.
      Người đời nhìn vào họ như nhìn vào vị Thánh, Đức Phật để rồi gọi họ là “cậu”, là “cô” rất thành kính và coi họ như “người Trời” chứ không phải người thường. Đó cũng là lẽ thường của cuộc sống, bởi vì, cho đến hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước vẫn chưa có được những lời giải thực sự thuyết phục được số đông công chúng.
      Khả năng ngoại cảm đã được các nước trên thế giới nghiên cứu từ cả thế kỷ nay. Nhiều nước còn lập cả viện nghiên cứu để sử dụng khả năng của các nhà ngoại cảm vào nhiều lĩnh vực khác nhau như thiên văn, dự báo, khám phá tội phạm, thậm chí cả trong lĩnh vực quân sự…
      Các nhà khoa học ở nước ta đã bắt đầu nghiên cứu các hiện tượng đặc biệt của con người, tự nhiên từ khoảng 15 năm nay. Đi đầu trong lĩnh vực này phải kể đến bộ tứ cơ quan gồm Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng, Trung tâm Bảo trợ văn hóa truyền thống, Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an và Bộ môn Cận tâm lý của Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người.
      Các cơ quan này đã tập hợp được đông đảo nhà khoa học tài ba, ham mê khám phá những hiện tượng kỳ lạ, khả năng đặc biệt nhằm khai thác để phục vụ đất nước. Mặc dù đã hoạt động được 15 năm, triển khai cả ngàn đề tài khoa học, song đối với vấn đề ngoại cảm sâu rộng vô biên, đây cũng mới chỉ là bước nghiên cứu đầu tiên, nhằm đánh giá đúng sai, thật giả mà thôi.
      Hầu hết các nhà ngoại cảm có khả năng thật sự đã được phát hiện nhờ các cơ quan trên đây, những trường hợp bịp bợm, ảo tưởng (số này đến cả ngàn) cũng bị loại bỏ nhờ các đề tài nghiên cứu rất cụ thể, chi tiết. Kết quả thể hiện khả năng của các nhà ngoại cảm đã được đánh giá bằng những số liệu khoa học chính xác và các nhà khoa học ở các trung tâm này đều khẳng định hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm là có thật.
      Con số tìm được mộ và tìm chính xác chiếm khoảng 60%. Có nhà ngoại cảm còn tìm chính xác đến 81%. Tuy nhiên, việc lý giải hiện tượng kỳ lạ này dường như vẫn là một chân trời rộng mở vô biên mà các nhà khoa học mới chỉ chập chững bước chân vào mà thôi.
      Trong số cả trăm nhà khoa học miệt mài theo chân các nhà ngoại cảm lên rừng, xuống biển tìm hài cốt liệt sĩ, mới chỉ có vài nhà khoa học lên tiếng đưa ra lời lý giải cho hiện tượng này.
      Một trong số những nhà khoa học nghiên cứu về các khả năng đặc biệt và khả năng tìm hài cốt, là nhà khoa học Vũ Thế Khanh, Tổng Giám đốc Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng. Ông rất tích cực đi tìm hiểu bản chất của hiện tượng và ứng dụng nó vào đời sống cộng đồng.
      Theo ông, việc giải thích hiện tượng này không phải một sớm một chiều. Ông đã trình bày công trình nghiên cứu khảo nghiệm ở một số hội thảo và nhận được ủng hộ của nhiều nhà khoa học.
      Hội đồng khoa học Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng chủ trương nghiên cứu hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm từ việc khám phá bản thể, tiềm thức ẩn giấu trong con người.
      Tiềm thức nhiều khi được thể hiện thông qua việc “nối dài các giác quan”, trong đó có giác quan thứ 6, ẩn chứa những khả năng vô biên. Ở các loài thú, loại giác quan này vô cùng nhạy bén và thể hiện rất rõ.
      Bản năng con người thời kỳ sơ khai cũng tương tự bản năng của động vật, nhưng được tạo hóa đặt trên một bình diện cao hơn. Trước những sự kiện xảy ra xung quanh, con người đã nhờ đến sự chỉ dẫn của trực giác trước khi hành động.
      Bản năng cộng với sự lao động đã phát triển tư duy, mang lại cho con người trí thông minh và trí nhớ tạo nên sự hiểu biết. Tác dụng vô thức của bản năng được gọi là “tiềm thức” và nó có ý nghĩa khác với bản năng thú tính.
      Các nhà ngoại cảm cũng như những người có khả năng đặc biệt thường khai thác tiềm thức đưa hoạt động của bộ não về dạng tiềm thức rồi sử dụng ý nghĩ để chất vấn tiềm thức cá nhân của mình. Khi đó, tiềm thức sẽ đưa ra câu trả lời và nhà ngoại cảm nói và hành động theo sự hướng dẫn của tiềm thức. Khi hoạt động trí não ở thể tiềm thức, cơ thể sẽ vô cùng nhạy cảm với các hiện tượng, sự vật xung quanh và có thể cảm thụ, giải mã hoàn hảo những gì tác động lên họ.
      Các nhà khoa học trên thế giới đã mất nhiều năm trời để nghiên cứu khả năng vô biên của bản năng, tiềm thức của con người. Họ cho rằng, khi tiềm thức hoạt động, tiềm thức sẽ sử dụng “con mắt thứ ba”. Ngày xưa, khi con người thường xuyên sử dụng tiềm thức thì “con mắt thứ ba” rất phát triển, nó nằm ngay trên trán.
      Tiến sĩ Pravdivtsev, người Nga, đã bỏ gần như cả cuộc đời để nghiên cứu về “con mắt thứ ba” và ông khẳng định rằng, bằng nghiên cứu về phôi thai hiện đại, có thể tìm thấy “con mắt thứ ba” ở tháng thứ hai của phôi thai, nhưng con mắt này sẽ dần mất đi khi thai nhi tiếp tục lớn và chỉ còn là tuyến yên trước tiểu não khi sinh ra mà thôi.
      “Con mắt thứ ba” đó chính là tuyến epiphysis (tuyến quả thông), một bộ phận nhỏ cỡ hạt đậu, có hình dạng quả lê và màu đỏ nâu, nằm ngay trước tiểu não. Theo nhận định của các nhà khoa học, trong quá khứ, bộ phận này có thể to bằng hạt nhãn.
      Con mắt này có rất nhiều tác dụng đặc biệt. Nó như một thấu kính hội tụ truyền đi tối đa thông tin mà nó nhận được, giúp con người giám sát xung quanh một cách toàn diện. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học nhận thấy một quy luật khá thú vị, đó là những người có khả năng thông tin đặc biệt, phần xương trên chóp mỏng đến mức chỉ còn như một lớp da.
      Phải chăng, epiphysis có liên quan đến thị giác và những thông tin đặc biệt của con người? Có thể chính “con mắt thứ ba” là cơ quan giúp một số người có được những khả năng đặc biệt như tiên tri hay thần giao cách cảm…
      Theo các nhà yoga, các thiền sư lỗi lạc, ai cũng có “con mắt thứ ba”, vấn đề là có biết “mở” nó ra hay không.
      “Con mắt thứ ba” của một số nhà yoga có tác dụng như những tia X-quang, đi xuyên qua các bức tường, nhìn thấy vật đằng sau, hoặc phát hiện được kho báu dưới lòng đất. Họ còn có thể quan sát được các sự kiện diễn ra ở bất cứ thời gian nào và bất cứ ở đâu trên trái đất.
      Ở Ấn Độ, những người có khả năng như vậy được gọi là Trikalazna, có nghĩa là người biết được cả quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở châu Âu người ta gọi là nhà chiêm tinh học hay nhà tư tế.
      Trong các bài giảng về yoga, con người có thể luyện tập để khai mở “con mắt thứ ba”. Việc khai mở được ở mức nào thì nhà yoga có khả năng ở mức đó. Nếu nhà yoga vượt qua được mức thứ nhất thì có thể nhìn thấy những vòng hào quang phát tiết từ đồ vật, con người hoặc cơ thể mình.
      Các nhà khoa học khẳng định, dựa vào cấu trúc của bộ não, vật báu trời cho, bất cứ người nào cũng có thể đạt được ba mức độ trên bằng cách luyện tập kiên trì, bài bản.
      Mức độ cao nhất, luyện đến độ tinh thông thì hiếm người làm được. Để đạt tới ngưỡng này, con người cần phải cống hiến toàn bộ cho sự nghiệp hoàn thiện tinh thần. Khi đã đạt đến mức độ tuyệt đỉnh của giai đoạn thứ tư, con người sẽ không cần học ai và không cần học cái gì nữa. Khả năng tinh thần sẽ cho phép con người biết và nhìn thấy tất cả những gì mong muốn, không phụ thuộc vào thời gian và không gian.
      Các bài học yoga có mục đích khai mở những khả năng bí ẩn của bộ não. Các thiền sư tu hành khổ hạnh cũng mang khát vọng như vậy. Khi đạt đến độ thâm sâu, nhà tu hành không cần học gì nữa mà vẫn biết mọi sự trên đời. Khi đó, nhà tu hành tiếp thu trí tuệ từ vũ trụ.
      Tuy nhiên, trí tuệ vũ trụ là vô biên, vì thế, sự hiểu biết của các nhà tu hành dù cao siêu đến đâu thì họ cũng chỉ dám so sánh với chiếc lá trong bàn tay mà thôi, còn những gì không biết là cả rừng lá.
      Theo nhà khoa học Vũ Thế Khanh, “con mắt thứ ba” tiềm ẩn trong não người dù có chức năng như các nhà khoa học thế giới nghiên cứu đi chăng nữa thì nó cũng chỉ có tác dụng một phần trong khả năng kỳ diệu không lường được của các nhà ngoại cảm.
      Để hiểu sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề này, ông Khanh và các GS, TS, các nhà khoa học hàng đầu của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng đã nghiên cứu sự tác động qua lại giữa vật thể và ý thức thể.
      Theo ông Khanh, giữa vật thể và ý thức thể có 4 loại tác động: vật thể tác động vật thể; vật thể tác động ý thức thể làm thay đổi ý thức thể; ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể (làm di chuyển, biến dạng cấu trúc vật thể bằng ý nghĩa, tác động cách không, như trường hợp làm cong thìa, nĩa bằng ý nghĩ của một số nhà ngoại cảm trên thế giới) và cuối cùng là ý thức thể tác động với ý thức thể (hay còn gọi là tâm giao tâm, tức nói chuyện bằng ý nghĩ, ngoại cảm).
      Các nhà khoa học ở Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng cho rằng, khoa học hiện đại đã chưa thấy hết hiệu quả phần ý thức thể tác động làm thay đổi vật thể và coi hiện tượng tâm giao tâm là ngoài khoa học, là thần bí.
      Theo các nhà khoa học ở Liên hiệp, việc ý thức thể có thể tác động, điều khiển, làm biến dạng, thay đổi được vật thể mạnh hay yếu là phụ thuộc vào khả năng sẵn có trong mỗi con người kết hợp với sự luyện tập kiên trì để phát huy sức mạnh của ý thức thể.
      Ông Khanh và các nhà nghiên cứu của Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng đưa ra một nhận định khá đặc biệt, hơi khác với triết học duy vật hiện thời: ý thức thể cũng là một dạng vật chất!
      Ông Khanh giải thích rằng, thế giới tự nhiên tác động vào con người bằng ánh sáng, âm thanh, mùi, vị, xúc qua các giác quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, da. Sự tác động của tự nhiên đến các giác quan sẽ sinh ra thức (nhận thức) như: thích, không thích, hợp, không hợp….
      Cũng từ đây mới sinh ra hỉ, nộ, ái, ố… và tạo ra phản ứng cho cơ thể. Sự phản ứng đồng thời sẽ sinh ra lực cộng hưởng rồi tạo ra tác động lực. Tác động lực sẽ phát ra không gian (gọi là năng lượng sinh học) mạnh hoặc yếu. Hiện nay, với máy móc hiện đại như điện tâm đồ, điện não đồ đã đo được năng lượng sinh học của con người.
      Chính năng lượng sinh học tiềm ẩn sinh ra điện trường, từ trường mà thường gọi là trường sinh học. Trường sinh học sẽ tạo ra hiện tượng tâm giao tâm, gọi là “truyền âm nhập mật” hay “nghĩ ngữ truyền thanh”, tức là có thể trò chuyện, hiểu được tâm tư của nhau bằng ý nghĩ. Cũng theo lý giải của ông Khanh, dù con người mất đi, song trường sinh học sẽ tồn tại vĩnh viễn.
      Qua lý giải này thì một số nhà nghiên cứu về tiềm năng con người đã khẳng định ý thức thể, tâm thức cũng là một dạng vật chất, nhưng là vật chất đặc biệt, có sự chuyển đổi biến ảo khôn lường. Chẳng hạn, chị Ngô Thị Tuyển có thể vác một lúc hai hòm đạn chạy băng băng trong cảnh mưa bom bão đạn.
      Lúc bình thường chị không thể vác được như vậy, song trong hoàn cảnh đó ý thức thể đã biến thành năng lượng và chuyển năng lượng vào các cơ bắp, làm cho cơ bắp nhỏ bé, mềm yếu thường ngày đột nhiên có một sức mạnh phi thường. Qua đây, có thể thấy ý thức thể là một dạng vật chất rất mạnh và trong tương lai có thể lượng hóa được bằng khoa học, máy móc hiện đại. Vì ý thức thể là một dạng vật chất đặc biệt nên nó có thể tác động làm biến đổi vật thể (?!).
      Chính ý thức thể, tiềm thức đã sinh ra điện trường, từ trường và trường sinh học. Theo các nhà khoa học thì trường sinh học phát sinh từ cơ thể người cũng là một dạng vật chất và nó tồn tại vĩnh viễn, do đó, dù con người mất đi thì cũng không ảnh hưởng gì đến trường sinh học.
      Trường sinh học không những có thể chu du đến khắp nơi trên thế giới mà có thể vươn ra ngoài vũ trụ. Trường sinh học mã hóa và lưu giữ toàn bộ thông tin mà bộ não con người thu nhận được. Những gì chúng ta ghi nhớ được chỉ nằm trên bộ phận nhỏ của bộ não, nhưng những gì tác động đến chúng ta thì hệ tiềm thức chụp lại và lưu giữ như ổ cứng của máy tính hoặc được mã hóa rồi được lưu giữ ở trường sinh học.
      Việc các nhà ngoại cảm “nói chuyện” được với linh hồn thực tế là do tiềm thức của nhà ngoại cảm dịch được những thông tin mã hóa mà trường sinh học mang theo, như chiếc đài hay chiếc tivi giải mã được tần số sóng vậy. Cũng có thể nhà ngoại cảm tưởng trên đời có linh hồn thật, bởi không phải lý trí nhà ngoại cảm “nói chuyện” với “linh hồn” mà là tiềm thức “nói chuyện” (thực ra là tiềm thức khai thác thông tin từ trường sinh học) rồi chỉ đạo cho lý trí.
      Những câu hỏi của nhà ngoại cảm với linh hồn để xin sự chỉ dẫn chẳng qua là sự chất vấn của ý thức với tiềm thức. Việc nhà ngoại cảm biết những thông tin, những sự kiện xảy ra trong đời của người khác là bởi vì tiềm thức siêu đẳng của nhà ngoại cảm đọc được cả ý nghĩ và tiềm thức của người khác, chứ không phải do linh hồn người thân kể lại.
      Cũng có thể tiềm thức của nhà ngoại cảm như một chiếc máy phân tích hình ảnh siêu hiện đại. Mỗi khi ý thức yêu cầu, tiềm thức lập tức giải mã hình ảnh từ sóng trường sinh học. Hình ảnh mà nhà ngoại cảm nhìn thấy là linh hồn có thể chỉ là hình ảnh giải mã của tiềm thức, song hình ảnh đó là đa chiều (chứ không phải hình ảnh 3D hay 4D thông thường), nên nhà ngoại cảm cũng tưởng rằng hình ảnh trước mắt là linh hồn của một con người thực sự.
      Đây chính là hệ tương tác giữa ý thức thể và ý thức thể. Với tương tác này, nhà ngoại cảm, những thiền sư lỗi lạc có thể nói chuyện được với nhau bằng ý nghĩ. Họ có thể hiểu, đọc ý nghĩ của người thường, nhưng người thường thì không đọc được ý nghĩ của họ, nên người thường cho họ là thần thông quảng đại. Khi nhà ngoại cảm nói ra vài sự kiện đúng thì người đối diện đã nghĩ họ là “con Trời, con Phật” rồi.
      Với khả năng lưu giữ thông tin, các nhà khoa học khẳng định, trường sinh học hay ý thức thể cũng là một dạng vật chất, nhưng là siêu vật chất. Loại vật chất đặc biệt này không phụ thuộc sự giới hạn của không gian, thời gian. Chuyên đề ANTG mong nhận thêm được những lý giải của các nhà khoa học về hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm để dư luận có được những cái nhìn khách quan, nhiều chiều nhằm khám phá lĩnh vực đầy bí ẩn này
      Ban đọc có nhu cầu tìm mộ xin liên hệ: Liên hiệp Khoa học Công nghệ tin học ứng dụng, số 1, Đông Tác, Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội.
      ĐT: 04.5745150 – 04.2164107.
      Read more...

      Popular Posts