Bài đọc nhiều

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Tứ thiền:

0 nhận xét

Tứ thiền:
Thông thường, rất khó chứng ngộ tần thiền này một cách hoàn hảo. Chúng ta chỉ chứng một phần nào thôi. Vì những nghiệp lực sâu dày trong quá khứ, bạn phải tu hành nhiều đời nhiều kiếp trước khi chứng đắc tầng thiền này hoàn toàn.
Sau đây là một vài kinh nghiệm.
Trung bình, những ai đã có duyên với Yoga và tập Yoga chăm chỉ khoảng chừng sáu bảy năm, sau khi nhập thất vài lần, mỗi lần bạn thiền 30 ngày liên tiếp, bạn sẽ thuần thục tam thiền. Trong khi đó nếu bạn nhập thất 49 ngày, chưa chắc bạn chứng tứ thiền. Khi bạn nhập thất 49 ngày vài lần như vậy, bạn sẽ hiểu đẳng cấp của bạn đang ở đâu, bạn biết rõ mình là ai và bạn chấp nhận sự thật hiện tiền. Bạn không còn lo lắng về sự tiến bộ tâm linh của mình, bạn biết bạn đang đi đúng đường và bạn chỉ cần thời gian thôi. Bạn chỉ tiếp tục thiền và làm công việc của bạn với một tâm quân bình, tĩnh lặng và sáng suốt. Bạn biết nhiệm vụ cao cả của bạn là thanh lọc tâm. Bạn nhớ lại rằng bạn đã từng thiền nhiều lần trong quá khứ, và bạn vẫn tiếp tục đi trên con đường cao quý này, con đường Giới Định Tuệ. Rồi một ngày nào, khi duyên lành đã tới, bạn sẽ giải thoát.
Sau khi ở tam thiền khoảng 4 đến 12  tiếng, bạn xuất tầng thiền này, giữ tâm quân bình, nhập sơ thiền, ở lại đây 2 tiếng, xuất sơ thiền, bạn nhập nhị thiền, ở lại đây 4 đến 8 tiếng. Xuất nhị thiền, bạn nhập sơ thiền, xuất sơ thiền, bạn nhập tam thiền, xuất tam thiền, bạn nhập sơ thiền, xuất sơ thiền, bạn nhập tứ thiền.
Đây là tiến trình chuyển hoá của tâm, chúng ta không cần biết tại sao tâm  lại chuyển hoá như vậy, chúng ta chỉ ngồi đó, giữ tâm bình thản và kinh nghiệm những gì đang xảy ra. Điều chắc chắn là trước khi vượt tứ thiền, tâm  trở về sơ thiền vì nó cần gạn lọc những nghiệp lực vi tế nhất. Chỉ cần một niệm nhỏ nổi lên là tâm bạn vẫn đục và mất đi sự quân bình sáng suốt. Tâm cần trở lại sơ thiền thường xuyên, lấy lại sự quân bình cần thiết để nhập tứ thiền.
Điều quan trọng mà bạn chứng ngộ ở đây là sự biến mất của bản ngã, sự biến mất của ‘cái Tôi’.
Khi ở tam thiền, bạn kinh nghiệm rằng thân thể bạn không phải là một khối thịt cứng ngắc nữa mà là những đợt sóng với những tầng năng lượng dạt dào sinh ra và diệt đi với một tốc độ khủng khiếp.Tâm bạn thật là sắt bén, nó phân biệt rõ ràng những phân tử cấu trúc thân bạn . Một số phân tử ( particule ) chết đi, nhường chổ cho một nhóm khác được sinh ra. Bạn kinh nghiệm được sự tuần hoàn của sự sống và sự chết trên chính bản thân mình. Bạn kinh nghiệm được sự luân hồi. Mỗi một phân tử particule chứa đựng tất cả những dữ kiện quá khứ và tương lai. Nếu những nghiệp này được rửa bởi thiền, nó sẽ không được đưa sang những phân tử mới. Bây giờ bạn quét sự chú ý của bạn tới đâu, sóng tâm của bạn sẽ di chuyển đến đó và bạn bắt đầu làm chủ được tâm mình va sai khiến nó.
Bạn tập trung sự chú ý vào xương sống và xuyên thủng nó để nhìn vào trong. Bạn sẽ thấy rõ lục phủ ngũ tạng của mình và sự hoạt động của nó. Bạn quán sự hoạt động này mà không phản ứng với một tâm quân bình. Đến một lúc nào đó bạn nhận biết ra rằng sự hoạt động này cũng chỉ là sự biến chuyển của làn sóng tâm mà thôi. Đến tầng thiền này, bên trong người bạn hay bên ngoài chỉ là một sự sinh diệt rất vi tế của chấn động lực và năng lượng. Đến một lúc nào đó sự sinh diệt này biến mất, tất cả giác quan đều ngừng hoạt động và thân tâm bạn biến mất.
Vì tất cả đã biến mất, chấn động lực và năng lượng biến mất, sáu giác quan ngừng hoạt động, cảm giác và tri giác biến mất,  nên bạn chứng ngộ rằng tất cả các quá trình tiến triển này đều là Không, tất cả các pháp đều là Không. Bản ngã là không có thực thể ( l’ego nexiste pas, le non soi existe ). Đây là sự chứng ngộ vô cùng vi diệu về sự thật tối thượng. Sự thật tối thượng này không nằm trong kinh điển, bạn phải chứng ngộ nó. Dù cho các bạn thông thái tới đâu, hiểu rõ Không là gì, và lặp đi, lặp lại những lời vô nghĩa như Không bất thị Sắc, Sắc bất thị Không,  chỉ làm đầu óc bạn thêm hoang mang mà thôi.
Kinh nghiệm về sự biến mất của thân và tâm, sự biến mất của tri giác, của bản ngã, bản ngã không có thực thể, tất cả các Pháp đều là Không phải đựơc lặp đi, lặp lại nhiều lần. Cho đến khi bạn hiểu một cách cụ thể rằng tất cả các pháp đều vô thường, đều là Không, bạn xả bỏ tất cả và chứng quả.
Read more...

Tam thiền

0 nhận xét

Tam thiền

Khi bạn chứng tam thiền, nghĩa là bạn đã thực tình dốc lòng vì đạo. Từ tầng thiền này trở đi, bạn được coi như là chuyên gia về thiền. Bạn giữ giới rất là tự nhiên và yoga là cuộc sống của bạn. Bạn sống chỉ là để thiền. Tâm bạn bây giờ đã thuần thục, nó nhập sơ thiền rất mau, bạn chỉ cần ngồi xuống 5 phút là tâm bạn chứng sơ thiền. Muốn nhập nhị thiền, bạn phải nhập thất nhưng thời gian ngắn hơn.
Trong tầng thiền này, tâm bạn không còn thoái chuyển tại vì mọi sự nghi ngờ về Giáo Pháp đã được rửa sạch do công phu  tập yoga. Bạn chứng đắc bất vô úy, nghĩa là bạn không còn sợ hãi bất cứ chuyện gì. Bạn sống từ đây trong an lạc vĩnh viễn, không có gì có thể làm cho bạn sợ hãi và mất đi tâm quân bình .
Bạn kinh ngiệm rằng thân thể bạn chỉ là sự tập hợp của những phân tử ( particule). Do tham sân si biến mất, nên trên thân thể bạn không còn cảm giác. Toàn thân bạn chỉ là một sự rung chuyển rất vi tế của sóng ( vibration), năng lượng di chuyển trên người bạn một cách tự do. Bạn kinh nghiệm rằng toàn thân bạn chỉ là chấn động lực và năng lượng.
Nhưng trước khi chứng tam thiền, bạn phải trải qua một thử thách rất lớn, đó là bạn phải vượt vô minh. Từ nhị thiền lên tam thiền, bạn cần gấp ba năng lượng mà bạn cần khi bạn từ sơ thiền lên nhị thiền vì phần vô minh ở đây rất dài. Nghĩa là bạn cần một thời gian dài để đối phó với vô minh. Trong thời gian thiền, bạn phải giữ cho tâm được quân bình và sáng suốt khi bạn kinh nghiệm những cảm giác do vô minh gây ra. Những cảm giác dễ chịu, vi tế do tham gây ra, những cảm giác cứng, đau đớn, khó chịu do sân gây ra. Hai loại cảm giác này dễ nhận biết nên bạn đối phó với chúng được. Còn những cảm giác do vô minh gây ra, rất là đặc biệt, nó không khó chịu cũng không dễ chịu, khó nhận biết, nó ru ngủ bạn và bạn tưởng rằng đây là đường cùng, hết lối đi lên.
Tâm bạn bắt đầu nảy ra sự nghi ngờ. Nó sẽ bảo thôi đừng thiền nữa mất công vô ích, không có gì để mà chứng nữa đâu, nghiệp của mày quá sâu dày, mày thiền nữa cũng chằng đi tới đâu và bạn sẽ hoang mang. Đây là lúc cực kỳ nguy hiểm nên tôi muốn nhắc bạn.
Hãy kiên trì, nếu cần, bạn ngưng thiền một thời gian, một tuần hay hai tuần rồi thiền lại. Đừng để vô minh thống trị, đừng để nó ru ngủ mình bằng những lời mật ngọt hoặc đe doạ. Nó kiếm đủ mọi cách để bạn đừng vượt tam thiền. Nó sẽ dụ bạn : tại sao bạn lại thiền, trên đời còn nhiều thứ để vui chơi, hoặc nó đe doạ: mày sẽ tẩu hoả nhập ma vì sự giữ giới của mày chưa được chặt chẽ, bao nhiêu vị sư tu tập rất là nghiêm túc còn chưa chứng đựơc tam thiền huống chi là mày… Tóm lại, Vô Minh tìm đủ mọi cách để bạn ngưng thiền vì nó cảm thấy bị đe doạ bởi tần thiền này.
Trong tam thiền, tâm của bạn rất sắc bén để chọc thủng màng vô minh, bạn không còn bị những ảo vọng ( illusion ) lôi cuốn và làm cho mờ mịt, một phần sự thật tuyệt đối đã phơi bày. Thân của bạn không còn là một khối cứng ngắc và nặng trược nữa mà chỉ là sóng và năng lượng. Những làn sóng chấn động lực được sinh ra và diệt đi với một vận tốc kinh khiếp, năng lượng dạt dào trong người bạn, nó sinh ra và diệt đi. Bạn chứng đắc và hiểu rằng tất cả các Pháp sinh ra là để diệt đi, tất cả đều là vô thường, bất toại nguyện, rỗng tuếch và không có thực chất, là Vô Ngã ( sans nature propre ). Bạn hiểu rằng thân thể và tư tưởng bạn không có thực chất và không phải là của bạn. Tất cả chỉ là sóng và năng lượng ( onde et energie).

Khi kinh nghiệm điều này, tâm bạn bắt đầu xả bỏ vì nó hiểu rằng đây không phải là ta và không có gì là của ta, nên nó không nắm bắt, không chiếm giữ, tâm bạn khởi lên niệm giải thoát và bạn tri kiến rằng bạn đã giải thoát.
Read more...

Nhị Thiền

0 nhận xét

Nhị Thiền

Tần thiền này cần một sự tập luyện chuyên cần và giữ giới một cách nghiêm nhặt của các thiền sinh. Nhờ công phu yoga hàng ngày ( mỗi ngày ít nhất là ba giờ các bạn phải ngồi thiền ). Khi các bạn không ngồi và làm những chuỵên khác, các bạn vẫn phải theo dõi, quán sát những cử động của thân thể, sự phản ứng của nó, quá trình sinh lên và diệt đi của những cụm tư tưởng, quá trình sinh lên và diệt đi của mỗi cảm giác, như vậy bạn tập cho tâm bạn thiền 24 trên 24.
Nhờ công phu này mà các bạn có thể nhập thất và thiền liên tục 20 ngày. Các bạn có thể chứng nhị thiền lần đầu tiên khi bạn thiền liên tiếp 20 ngày hoặc là những lần sau đó.
Bạn ở trong trạng thái này từ 1 đến 8 tiếng.
Nhờ công phu yoga tâm bạn có được những phẩm chất sau đây:
Sati: Tâm bạn rất sắc bén, nó kinh nghiệm một cách liên tục và rõ ràng những cảm giác.
Passadi: Tâm bạn bình an, tĩnh lặng, tư tưởng và sự suy nghĩ không còn nữa, bạn kinh nghiệm rõ ràng sự vô minh là gì.
Uppeka: Tâm bạn đã đạt được sự quân bình , bạn luôn chánh niệm và tỉnh giấc trước mọi cảm giác, nó không còn phản ứng nữa.
Samadhi: Tâm bạn sắt bén và tập trung một cách vững chắc. Do sự tập trung mà tâm bạn đưọc bình an.
Nhờ những đức tính này, phần ý thức (  conscience ) của bạn được toả rộng, tâm bạn bắt đầu ý thức được những gì đang xảy ra trong vô thức ( subsconscience ). Vô minh bị đẩy lui và Tuệ Quán phát triển.
Tâm bạn lúc này rất là trong sạch, những nghiệp gây ra bởi tham sân si trong kiếp sống hiện thời của bạn đã được rửa đi một phần lớn. Các nghiệp trong quá khứ bắt đầu trỗi lên, do vậy mà các bạn nhớ lại một hay nhiều tiền kiếp của mình và lúc này cũng là lúc nguy hiểm nhất. Hãy cảnh giác, hãy tiếp tục tập yoga, quan sát những cảm giác, những sự kiện quá khứ này một cách khách quan và đừng chạy theo chúng. Hãy tiếp tục rửa sạch những nghiệp chướng mà bạn tạo ra trong quá khứ. Vì tò mò, bạn sẽ chạy theo những sự kiện này để tìm hiểu những gì đã xảy ra trong các tiền kiếp của mình. Nên nhớ, lúc bạn muốn điều gì là bạn đang phát triển lòng tham. Hãy cảnh giác đừng để tâm tham lam lường gạt mình, nó sẽ bảo: ‘Oh ta thiền quá hay, ta đã chứng nhị thiền, ta có được thần thông biết được chuyên quá khứ vị lai’ Lòng kiêu ngạo và khoe khoang sẽ trỗi dậy, thay vì tiếp tục thiền để rửa sạch các nghiệp chướng này để giải thoát, các bạn thiền để được trở về quá khứ. Một lần nữa các bạn đi sai đừơng và bị tham sân si thống trị.
Cùng như vậy lúc này sati ( chú ý đơn thuần ) của tâm bạn cũng được phát triển mạnh mẽ. Tâm bạn bắt đầu ý thức được một phần các hoạt động của Vô Thức nghĩa là các hoạt động của Vô Minh và biết Vô Minh được hình thành như thế nào.
Lúc này Vô Minh sẽ hiện rõ bộ mặt thật của nó vì sao ?
Vì nó được nuôi sống bằng tham sân si.
Lúc các bạn thiền 20 ngày liên tiếp, hơn 10 giờ một ngày, bạn rất là cảnh giác, nên tham sân si không phát triển đựoc, Vô Minh bắt buộc phải đi tìm thức ăn của nó. Tôi ráng giải thích cho quí vị hiểu Vô Minh hoạt động và sinh sống ra sao.
Chúng ta có hai phần :  thân thể và tâm ( corps et esprit )
Thân thể được nuôi dưỡng bằng thức ăn. Mỗi ngày phải cũng cấp hai hay ba bữa ăn. Nhưng thân thể có phần dự trữ của nó. Nếu ta không cho nó ăn trong vòng vài ngày, thân thể vẫn tiếp tục sống nhờ phần dự trữ này. Nếu ta tiếp tục nhịn ăn trong vòng vài tuần, phần dự trữ này sẽ hết và thân thể sẽ chết.
Cũng như vậy, tâm được nuôi bằng thức ăn riêng của nó, nó tiếp tục sống nhờ nghiệp lực của tham sân si. Mỗi một niệm, một giây khắc trôi qua, trong tâm của chúng ta đầy rẫy những ý tuởng tham sân si giúp cho tâm sinh ra khoảng cách kế tiếp. Lúc chúng ta thiền, chúng ta không phản ứng bằng tham sân si, tâm bắt buộc phải sử dụng phần dự trữ của nó để tiếp tục sống. Nó làm sống dậy những nghiệp trong quá khứ để cung ứng tham sân si cho nó. Chuyện gì sẽ xảy ra? Giây phút tiếp theo, chúng ta lại quan sát những nghiệp lực này dưới dạng cảm giác mà không phản ứng.
Tâm lại bắt buộc phải đi tìm thức ăn bằng cách làm sống lại những nghiệp khác trong quá khứ. Đến một lúc nào đó, phần dự trữ này cũng sẽ khô cạn. Tất cả nghiệp chướng đã hết, tâm sẽ chết vì không còn thức ăn, luồng tư tưởng dừng lại, và chúng ta giải thoát.
Vậy chúng ta thấy rằng, khi chúng ta thiền, chúng ta không tạo nghiệp hiện tại và bắt buộc phần Vô Thức phải sử dụng phần dự trữ của nó nếu nó muốn tiếp tục sống.
Nếu ban ngày chúng ta thiền và cảnh giác, phần Vô Thức này phải làm sao để làm đầy lại phần dự trữ của nó ( remplir son stock? ). Xin trả lời , nó chờ bạn ngủ để ra tay hoạt động. Khi bạn ngủ , nó sẽ tạo ra những cơn mơ, nếu bạn thích tiền , nó sẽ mơ tiền, nếu bạn tham dục, nó sẽ tạo ra những cảnh dâm ô, nếu bạn háo ăn, bạn sẽ mơ đuợc ăn, nếu bạn thù hận ai đó mà bạn vẫn giữ lòng thù hận này trong lòng, vô thức sẽ tạo ra những cảnh chém giết hoặc ác mộng. Nhưng có một điều vô thức không ngờ là bạn đã chứng nhị thiền, nên khi nó bắt đầu đi kiếm ăn, bạn biết ngay. Có nghĩa là khi bạn bắt đầu nằm mơ, bạn ý thức được là bạn đang mơ. Đây là một thần thông mới mà bạn đạt được nhưng cũng là lúc một sự nguy hiểm mới bắt đầu .
Quyền hành và năng lượng của phần Vô Thức rất là lớn, nó không tuỳ thuộc vào thời gian lẫn không gian, nó không cần giác quan để biết, nó chỉ cần dùng tâm để biết, bằng chứng là khi bạn mơ, bạn cũng cảm thấy được mùi vị, màu sắc và âm thanh, dù lúc đó các giác quan của bạn đang ngủ. Do đó khi bạn bám sát Vô Thức, biết những gì Vô Thức đang làm, có nghĩa là bạn đang xuất hồn.
Chẳng hạn Vô Thức mơ về một vùng đất hay là một cảnh giới nào đó, bạn đang bám sát Vô Thức, nên khi Vô Thức mơ về những vùng này, bạn thật sự là đang có mặt tại đó.
Tôi không cấm thiền sinh kinh nghiệm những chuyện này, ngay cả tôi, tôi cũng đã chu du một vài lần cho thoả ý hiếu kỳ của mình, và sau đó tôi tiếp tục tập yoga. Tại sao như vậy? Tại vì nếu quí vị thiền để xuất hồn thường xuyên, chúng ta sẽ không giải thoát. Mục đích của chúng ta là giải thoát khỏi Vô Minh, nên khi ta biết được vô minh đang làm gì, ta sẽ cảnh tĩnh và ngăn ngừa những hành động của vô minh để không tạo nghiệp trong cơn mơ. Thay vào đó chúng ta ham xuất hồn để ngao du, lòng tham lại một lần nữa ngự trị chúng ta, và chúng ta quên đi mục tiêu ban đầu của thiền là để giải thoát. Do đó chúng ta không được chạy theo những thần thông ấu trĩ này.
Tóm lại, khi nhập nhị thiền, bạn phải hết sức cảnh giác đừng để những thần thông bé bỏng quấy rối. Trong tầng thiền này điều quan trọng mà bạn cần chứng ngộ là bạn kinh nghiệm được sự thiêu đốt khủng khiếp của tham sân si. Do tâm định tĩnh và sắc bén, dù chỉ là một niệm nhỏ nổi lên, bạn có cảm giác như lửa tham sân si đang đốt bạn, tâm bạn mất đi sự quân bình và an lạc. Do kinh nghiệm này, khi xuất khỏi tầng thiền này, bạn kinh sợ tham sân si, nên bạn giữ giới càng chặt chẽ hơn.
Read more...

Sơ thiền

0 nhận xét

Sơ thiền

Lúc đầu mới tập, ngồi 10 phút. Sau đó tăng lên 20 phút, một tiếng, hai tiếng, ba tiếng, một ngày , hai ngày. Tâm càng định, bạn sẽ ngồi được càng lâu.
Lúc bạn nhập sơ thiền, bạn sẽ ở trong tình trạng định này khá lâu khoảng một tiếng đến bốn tiếng. Trong tình trạng này tâm rất là an lạc, định tĩnh, hơi thở chỉ còn như sợi chỉ rất là vi tế  nhẹ nhàng và trơn tru. Nhiều khi bạn cảm thấy hơi thở như dừng lại, lâu lâu có một sự đập ( impulsion ) trỗi dậy nhắc bạn rằng là hơi thở vẫn còn đó.
Nói là nhập sơ thiền, thật ra là bạn bị cuốn hút bởi tầng thiền định này ( absorption ) và bạn không cưỡng lại đuợc. Điều thứ hai là bạn không thể quyết định nói là lúc nào ta muốn nhập sơ thiền là nhập. Khi công phu đầy đủ, tâm bạn tự nó nhập sơ thiền. Trong tầng thiền này, do tham sân si vắng mặt nên tâm bạn rất là an ổn và phúc lạc. Bạn cảm thấy đây là niết bàn và bạn muốn ở lại đây.
Hãy cảnh tỉnh vì đây cũng là lúc nguy hiểm nhất. Nếu các bạn không cảnh giác, tâm tham lam sẽ trỗi dậy, nó thích trạng thái an lạc này, nó sẽ tưởng đây là niết bàn và muốn nắm giữ.  Nên nhớ rằng tầng thiền này cũng là vô thường, nó sẽ thay đổi và biến mất. Nếu các bạn thất vọng vì trạng thái này không còn nữa, tâm bạn lại sinh ra buồn dọc và sân hận. Ta thiền là để thoát khỏi tham sân si, và một lần nữa ta bị chúng chi phối.
Khi bị cuốn hút trong sơ thiền, bạn không thể quán cảm giác được, tư tưởng cũng rất là vi tế nên bạn cũng không thể quán chúng. Hãy giữ cho tâm bạn được quân bình, trở về với hơi thở của mình và chờ cho trạng thái này chấm dứt. Sau đó hãy tiếp tục công việc yoga của bạn.
Trung bình, nếu các bạn giữ giới và tập thiền đều đặng trong vòng 3 năm, nhập thất ít nhất là hai lần 10 ngày một năm, bạn sẽ chứng sơ thiền. Thời gian này có thể lâu hay mau hơn còn tuỳ theo căn cơ và nghiệp chướng của mỗi thiền sinh.
Read more...

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

THIỀN TỐT CHO NÃO BỘ

0 nhận xét

Thiền tốt cho não bộ

image
Một giáo sư của đại học Harvard nói bí quyết để có một cơ thể khỏe mạnh và một đầu óc cởi mở có thể chỉ đơn giản là nằm yên hay thiền để làm thay đổi hệ thần kinh trung ương.
 
Khoảng 30 sinh viên và nhân viên của trường đại học Boston đã tập trung tại trường Sargent College of Health and Rehabilitation Sciences để nghe Anne Harrington, giáo sư môn lịch sử khoa học của trường đại học Harvard, thảo luận về tác động của thiền lên não bộ trong  buổi thuyết trình “Não bộ của những vị tu sĩ phương đông: Tìm hiểu về sự cộng tác giữa Phật giáo và ngành khoa học nghiên cứu về não.”
 
Buổi diễn thuyết được tổ chức bởi viện Albert và Jessie Danielson, là một trung tâm điều dưỡng và nghiên cứu về sức khỏe tâm thần tại trường đại học Boston. Nó cũng là một phần trong loạt các buổi diễn thuyết được thực hiện kéo dài trong ba năm về ảnh hưởng của tôn giáo đến sức khỏe tâm lý của con người.
 
Harring phát biểu trong buổi diễn thuyết, “Hành thiền lâu năm làm mới đầu óc và làm cho người ta thấy hạnh phúc hơn và đồng thời có thể làm cho họ mạnh khỏe hơn. Vào năm 1969, nghiên cứu được thực hiện bởi Robert Keth Wallace, một tu sĩ có thâm niên hành thiền từ 20 đến 30 năm,  cho thấy mức độ chú tâm của ông 30 lần cao hơn những người thuộc nhóm đối chứng tham gia vào cuộc nghiên cứu.
 
Harrington nói rằng một công trình nghiên cứu khác cho thấy  hiện tượng trao đổi chất, nhịp thở và tần sóng não giảm trong cơ thể của  những người ngồi yên, lập đi lập lại một bài chú, thường là một bài thơ có vần điệu trong vòng 20 phút, hiện tượng giúp này giúp giảm huyết áp và nguy cơ bị bệnh tim do tâm trạng căng thẳng.
 
Buổi diễn thuyết của Harrington tập trung vào lịch sử về mối quan hệ giữa ngành khoa học thần kinh và Phật giáo Tây Tạng. Sự ám ảnh của Hoa Kỳ với nền văn hóa Á Đông bắt đầu từ những năm 1960 khi người ta bắt đầu hướng đến việc hành thiền như là một cách chữa bệnh không dùng thuốc nhằm phát triển ý thức.
 
Harrington nói rằng kể từ đó, mối quan hệ đó đã trải qua những cuộc thử nghiệm và phiền não do một số các nhà khoa học tranh cãi rằng những tác dụng, ảnh hưởng đến từ bên ngoài không thể làm thay đổi não bộ.
 
Harring nói trong một cuộc phỏng vấn, “Một số người nghĩ rằng hệ thống thần kinh là quan trọng nhất và không có gì quý hơn não – chẳng có gì gọi là ma thuật gì trong việc hành thiền cả, nhưng khoa thần kinh có thể có sức sống và những người Phật tử Tây Tạng đã làm cho khoa học thần kinh sống động trở lại.”
 
Tessa Sanchez, sinh viên năm thứ nhất trường đại học Mỹ Thuật và Khoa Học nói, “ Buổi thuyết trình thật thú vị. Tôi cùng đến tham dự với người bạn trai của tôi là một sinh viên chuyên ngành về Phật giáo và tâm lý, tôi đã học được rất nhiều về lịch sử của mối quan hệ giữa Phật giáo và khoa học.”
 
Courtney Allen, sinh viên năm thứ hai của California Academy of Sciences (CAS) nói rằng cô đến tham dự buổi thuyết trình vì nó có ich cho lớp nghiên cứu về các tôn giáo ở phương đông của cô.
 
“Tôi quan tâm đến Phật giáo và muốn tìm hiểu thêm về tôn giáo ngay cả khi nền văn hóa phuơng đông chưa phổ biến rộng ở Hoa Kỳ như bây giờ.”
 
Alissa Kuzinas, một sinh viên năm thứ hai khác của CAS tham dự buổi diễn thuyết,  nói cô học hỏi thêm về khoa học qua Phật giáo và thiền. Cô nói, “ Trước đây, tôi chưa từng nghĩ rằng thiền có thể được dùng như một liệu pháp.”

Người dịch: Quảng Hiền
Theo: The Daily Free Press
Read more...

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

THAM THIỀN LÀ THỰC TẬP LỤC ĐỘ BA LA - MẬT

0 nhận xét

Tham Thiền Là Thực Tập Lục Ðộ Ba-La-Mật


Làm nhiệm vụ Duy-na phải chú ý điều này: Ðến giờ khai tịnh, vị Duy-na phải gõ một tiếng khánh báo hiệu, để mọi người chuẩn bị đứng dậy; khi thấy tất cả đã chuẩn bị xong bèn gõ thêm một tiếng khánh nữa, tức thì tất cả đồng loạt đứng lên, tiếp theo là hai tiếng mõ báo hiệu bắt đầu bước đi. Khi chạy hương thì phải chia ra làm hai vòng, vòng ngoài dành cho người chạy mau, vòng trong cho những ai chạy chậm. Ðây là một cách thức điều hợp, cốt sao cho tất cả cùng theo được dễ dàng, người chạy mau hay chạy chậm đều thích nghi. Người ta nói: "Xiết quá thì chặt, lơi tay thì lỏng; chẳng chặt chẳng lỏng mới nên công", ý nói không chấp vào một pháp nào nhất định, mà phải linh động.
Trong Kinh Kim Cang có câu: "Không có pháp nào nhất định có tên là A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề". Muốn một cái gì cố định tức là tạo thành vấn đề.
Kinh Kim Cang còn có câu: "Các pháp là bình đẳng, không có cao thấp". Do đó người tu cũng phải bình đẳng. Tuy rằng Phật có Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông, nhưng Phật vẫn tự coi như không có gì khác với chúng sanh, do đó có câu nói: "Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không có sai biệt", tâm là Phật, Phật là chúng sanh; chúng sanh là Phật, Phật là tâm.
Chạy mau cũng tham thiền, chạy chậm cũng tham thiền, tự liệu sức của mình mà theo. Cốt ở chỗ tự nhiên, không kiểu cách, không có chút gì miễn cưỡng, cứ như thế dụng công, kiên nhẫn. Sống lưng thấy khó chịu, chân có đau, cũng đừng quan tâm. Thứ gì cũng không ham, cái đó gọi là bố thí. Thân không làm điều ác, tức là thân nghiệp thanh tịnh; miệng không nói chuyện thị phi, tức là khẩu nghiệp thanh tịnh; tâm không có vọng tưởng, tức là ý nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh gọi là trì giới. Có thể chịu đựng sự đau, gọi là nhẫn nhục; có thể dụng công liên tục, bất chấp các khó khăn, mà không thối chí, gọi là tinh tấn. Có thể ngồi an ổn chẳng động, mà thường biết rõ ràng, gọi là thiền định. Do định mà phát sanh trí huệ, tức là Bát-nhã. Cả lục độ thành tựu viên mãn vậy là đáo bỉ ngạn, tới bờ giác ngộ.
Ðến khi chỉ tịnh, Thầy Duy-na phải xem chừng khi nào vị ban thủ đi tới đúng chỗ ngồi của người đó thì gõ một tiếng mõ. Khi tất cả đều đến đúng chỗ của họ rồi thì gõ thêm tiếng mõ nữa. Ai nấy ngồi xuống ngay ngắn, sống lưng thẳng, đầu không gục xuống, lưng không cong. Người ta nói "tọa như chung", nghĩa là ngồi như hình cái chuông, đầu ngay, lưng thẳng, tư thế an ổn và vững vàng.
Tham câu "Niệm Phật là ai" không có nghĩa là niệm (recite) câu thoại đầu này. Ðây là tham tức là nghiên cứu cái chữ "ai". Có người bảo: "Tôi biết rồi, niệm Phật là tôi". Như vậy là không đúng! Câu thoại đầu này nếu ta thực sự giải đáp được rõ ràng, tức là ta đã thấy tánh, tìm được cội nguồn của Pháp, nhờ đó mà ta đã về được quê nhà. Thực tế không phải đơn giản và dễ dàng theo như kiểu chúng ta nghĩ: "Chính là tôi đó mà! Tôi đang niệm Phật". Quý vị niệm Phật ư? Vậy khi con người quý vị chết thì còn niệm Phật được không? Quý vị sẽ bảo là "không". Nếu không thì sao lại nói là người niệm Phật là quý vị? Nên nhớ rằng người niệm Phật là không chết, nếu quý vị phải chết thì người niệm Phật không phải là quý vị. Niệm Phật thành Phật, nhưng ai thành Phật? Ai tới quả vị Phật? Quý vị đã chết rồi kia mà!
Bởi vậy, chính tại nơi này quý vị phải tham cứu, tham không buông lơi, cho tới lúc "biển cạn đá tan", cuối cùng sẽ tới ngày "nước chảy, đá hiện", và, trong khoảnh khắc quý vị bừng ngộ: "A! Nguyên lai là như vậy!"

Read more...

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

NGỒI THIỀN, CÁCH LUYỆN TẬP

0 nhận xét
Ngồi thiền, cách tập luyện có lợi cho sức khoẻ

Con người khoẻ hay yếu có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tinh thần. Tinh thần bị kích thích đột ngột hay lâu dài quá độ đều có thể làm rối loạn hoạt động nội tạng. Tránh những kích thích tinh thần quá độ làm tổn thương tâm khí chúng tôi xin giới thiệu một phương pháp hiệu quả, đó là ngồi thiền.
Ngồi thiền là một trạng thái sinh lý giữa ngủ và thức. Đây là trạng thái ức chế đồng đều các tế bào thần kinh cả cảm giác và vận động tập trung bắt đầu từ vỏ não.
Thiền có 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Kéo dài 5-10 phút là giai đoạn chuyển từ hoạt động sang trạng thái yên tĩnh, tập trung tư tưởng để nhập thiền.
Giai đoạn 2: Kéo dài 20-40 phút và có thể kéo dài hơn nữa tuỳ thuộc vào khả năng cơ thể và cách tập luyện. Đây là giai đoạn nhập thiền và người tập hoàn toàn yên tĩnh, loại bỏ tất cả suy nghĩ, tập trung điều khiển hố hấp chậm dần. Khi các tế bào thần kinh bị ức chế sẽ tạo ra cảm giác thư thái và thư giãn cho cơ thể.
Giai đoạn 3: Dần dần trở về trạng thái bình thường, kéo dài 5-10 phút.
Có hai kiểu ngồi thiền:
Ngồi hoa sen: lòng bàn chân phải ngửa lên đùi trái và ngược lại; và ngồi nửa hoa sen lòng bàn chân phải ngửa lên bắp chân trái.
Ngồi tư thế ngay ngắn, cân đối toàn thân thả lỏng tự nhiên. Tập thiền có thể coi là phương pháp thể dục dưỡng sinh có tác dụng nâng cao sức khoẻ và bảo dưỡng tinh thần.
(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)
Việt Báo (Theo_VietNamNet)
Read more...

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

THIỀN LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP TỰ CHỮA BỆNH

0 nhận xét
THIỀN LÀ MỘT PHƯƠNG PHÁP TỰ CHỮA BỆNH
Lương y Võ Hà

Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, sinh dục, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch và dẫn đến nhiều chứng bệnh nghiêm trọng. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Hành Thiền không những có thể giải tỏa những cảm xúc âm tính, cải thiện hành vi mà còn giúp tăng cường nội khí, nâng cao sức đề kháng và sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường.


Nguồn gốc của Thiền


Từ Thiền của Việt nam hay Zen của Nhật bản đều được phiên âm từ "Ch’an" của Trung hoa. Những chữ này đều xuất phát từ chữ Dhyna, có nguồn gốc ở bộ kinh Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Đây là một bộ kinh thuộc triết học Bà la môn đã có từ thời thượng cổ ở Ấn độ. Theo tư tưởng Ấn độ, phàm muốn hiểu được chân tướng của một sự vật ta phải hòa mình làm một với sự vật đó. Thiền là quá trình tập trung tư tưởng, lặng lẽ suy tư, không để ngoại cảnh chi phối, là quá trình đồng nhất hóa với sự vật để hiểu được bản chất của nó. Thiền nguyên là một hình thức tu trì của những tông phái triết học ở Ấn độ. Sau khi Phật giáo ra đời, khoảng năm 520, Thiền được Bồ đề Đạt ma, một du tăng của Phật giáo truyền sang Trung hoa. Bồ đề Đạt ma nguyên là một tu sĩ thuộc Bà la môn giáo. Từ đây Thiền thuần lý và triết học của Ấn độ đã được giáo lý Phật giáo bổ sung và phát triển cả về nội dung lý luận lẫn phuơng pháp thực hành trong bối cảnh của truyền thống đạo học nguyên thủy của Trung hoa. Sau đó khi du nhập vào Nhật bản, Thiền lại được hòa trộn với tinh thần lễ giáo và nghệ thuật của Nhật bản. Như vậy Thiền được phổ biến sau này ở các nước châu Á đã hội tụ nhiều nét văn hóa đặc sắc của phương Đông. Đến khoảng đầu thề kỷ thứ hai mươi, do công của một giáo sư người Nhật, ông D.T. Suzuki, Thiền được giới thiệu sang các nước Anh, Pháp, Đức… Vào giai đoạn này, sau những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, văn minh nhân loại đã tiến thêm nhiều bước mới. Đời sống vật chất không ngừng được nâng lên nhưng tâm hồn con người dường như lại thêm lo âu, bất an hoặc cô đơn, trống rỗng. Thiền đã có mặt kịp lúc để lấp bớt khoảng trống này. Dưới cái nhìn duy lý và thực tiễn của người phưong Tây, Thiền đã nhanh chóng được tiếp nhận và quảng bá rộng rãi như là một hình thức giáo dục đạo đức và tâm linh. Vượt qua khỏi ranh giới của tôn giáo, sự hợp nhất giữa thân và tâm của Thiền giúp giải quyết những vấn đề do tâm lý gây ra và là phương pháp chữa trị cho nhiều chứng bệnh của xã hội hiện đại để mang lại hạnh phúc và sức khoẻ cho con người. Cũng ở thời gian này, Tổ chức Y tế Thế giới đã đánh giá lại ý nghĩa của từ sức khỏe "Sức khoẻ là sự thoải mái hoàn toàn vể các mặt thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải chỉ là tình trạng không bệnh tật". Có lẽ vì những lý do này, khi chuyển ngữ sang phương Tây, người ta đã dùng từ "Meditation" để dịch từ Zen. “Meditation” có cùng ngữ căn “Mederi" với từ "Medicine" với hàm ý là một phương pháp chữa bệnh.
Thiền là liệu pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể
Đối với y học phương Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh chỉ được Cullen nói đến vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm 1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống Stress ở Montreal, Canada đã chính thức dùng thuật ngữ Stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây, trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, lại là những người có khuynh hướng duy tâm, thường hướng nội và phản quán, các nhà y gia cổ đại của phương Đông đã sớm nhận ra ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người. Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh đã ghi nhận "bách bệnh giai sinh vu khí". Người xưa cho rằng những cảm xúc thái quá sẽ làm rối loạn khí hóa của những tạng phủ tương ứng và qua mối quan hệ sinh khắc sẽ dẫn đến sự mất quân bình của cả hệ thống. Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những bệnh về nội thương. Ví dụ những người quá suy tư căng thẳng thường ăn uống kém ngon, dễ rối loạn tiêu hóa. Điều này xảy ra vì sự suy tư quá độ làm ảnh hưởng đến khí hóa của tỳ vị vì "Tư thương Tỳ". Hơn nữa, sự căng thẳng lâu ngày làm Can khí uất kết có thể dẫn đến loét dạ dày, tá tràng, triệu chứng mà Đông y thường gọi là "Can phạm Vị". Đôi khi những rối loạn khí hoá do cảm xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh lý có thể thấy được ngay. Thử quan sát một người đang bộc phát cơn tức giận. Toàn thân nóng lên, mồ hôi vả ra, nhịp tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như căng lên. Ở một số người khác cơn nóng giận có thể làm cho toàn thân ngứa ngáy, đau thắt ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao tử. Đó là một trường hợp điển hình về rối loạn khí hóa do cảm xúc. Trong trường hợp nêu trên, Đông y cho rằng “Nộ thương Can", sự tức giận đã làm cho Can khí nghịch hành, dẫn đến các triệu chứng Can Đởm hỏa thịnh, thuộc Dương chứng. Trên thực tế, nếu bản thân không có các bệnh thực thể gì khác, chúng ta chỉ cần thực hành thư giản để sơ tiết Can khí hoặc chú tâm quan sát hơi thở vào và ra để đạt đến tâm bình, khí hoà hoặc chuyển tâm nghĩ đến một sự kiện vui vẻ đã xảy ra trong đời để khí của mẹ là Can Mộc được tiết bớt sang cho con là Tâm Hỏa (sự vui vẻ thuộc Tâm Hỏa và Mộc sinh Hỏa) thì các triệu chứng trên sẽ tự biến mất. Đó là ví dụ về những cách kiểm soát cảm xúc để làm chủ bản thân.
Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây Stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng. Trong những trường hợp này, việc giải toả Stress, điều hoà được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giản hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi người. Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình luyện tập hoặc điều trị. Trong những trường hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư đại học Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind-Body Medical Institute) cho biết "từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên quan đến Stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể". Ông cho rằng các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa các nội tiết tố Stress.
Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học Y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Standford, Duke, Virginia, San Francisco,… Đó là MBSR. MBSR là những chữ viết tắt của thuật ngữ "Mindfulness Based Stress Reduction", tạm dịch là "giảm Stress dựa trên sự tỉnh giác". MBSR được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe. Đây là một kỷ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều gì đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hòa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusettes (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR. Một liệu trình MBSR tiêu chuẩn kéo dài 8 tuần lễ. Chương trình gồm hai phần. Phần huấn luyện tại lớp mỗi tuần một lần, mỗi lần một buổi từ 2 giờ đến 2 giờ rưỡi. Riêng lần cuối cùng thường được tổ chức vào cuối tuần và kéo dài khoảng 7 hoặc 8 giờ. Phần tự thực hành tại nhà khoảng 1 giờ mỗi ngày. Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày, ruột, chứng đau nữa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, âu lo, hoảng loạn,… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.


Thiền là một liệu pháp chỉnh thể


Thiền là một truyền thống văn hóa đặc sắc của phương Đông. Do đó liệu pháp Thiền cũng phản ảnh đầy đủ tính chất “chỉnh thể" và "Trời người hợp nhất" của nền y học cổ truyền. Chỉnh thể hay nhất thể (holistic) là quan điểm xem con người là một tổng thể hợp nhất. Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể. Chẳng hạn, ở một bệnh nhân loét dạ dày, liệu pháp chỉnh thể sẽ lưu ý giải quyết tình trạng thấp nhiệt ở dạ dày hoặc căng thẳng tâm lý trong sinh hoạt để cải thiện khí hoá ở Tỳ vị hơn là cố tìm một loại kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn gây loét. Ở những chứng viêm mũi mãn tính, Đông y cho rằng do Âm hư gây ra Hỏa vượng. Do đó cách chữa phải đặt nặng việc bổ thận để nạp khí, bổ Âm phải tàng Dương, hơn là chỉ dùng những chất hàn lạnh để trừ hư Hỏa. Dù hư Hỏa có tạm được khống chế nhưng nếu làm trầm trọng thêm sự mất quân bình Âm Dương hoặc suy sụp thêm sức đề kháng thì bệnh không thể dứt được… Nói chung, theo quan điểm này thì sự nâng cao chính khí và sự hài hoà bên trong mới chính là nguồn gốc của sức khỏe. Chừng nào mà sự hài hòa còn chưa đạt được hoặc sức miễn dịch chưa được cải thiện thì sự cứu chữa chỉ là cục bộ hoặc tạm thời và sự biến mất của một triệu chứng sẽ có thể gây ra một triệu chứng khác ở một tổ chức khác. Do đó, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ, Thiền là đỉnh cao của liệu pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học thuật khác của phương Đông. Giống như những nhà khí công, những người hành trì Thiền lâu năm có định lực cao, trình độ khí hóa được nâng lên, có thể dùng năng lực Thiền để hóa giải bệnh tật hoặc chữa bệnh cho người khác. Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giản và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thể vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hòa hoạt động nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hóa bình thường để phục hồi sức khỏe. Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn & Thiền không chỉ có hiệu quả trên những bệnh tâm thể mà còn thông qua việc nâng cao sức miễn dịch và cải thiện lưu thông khí huyết để phục hồi dần những cơ quan đã bị tổn thương.
Nói chung trong quá trình hành Thiền, "thần tĩnh tức âm sinh", tâm không duyên ra ngoài sẽ giữ được khí, ngưng thần định ý tại Đan điền sẽ gia tăng chân khí. Do đó công năng dưỡng âm tồn thần và nâng cao chính khí của tọa Thiền hoàn toàn phù hợp với tinh thần "nhiếp sinh" của Nội kinh, có thể chữa được bệnh, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ và giúp gia tăng sự thích nghi của cơ thể đối với những điều kiện thay đổi của môi trường sống

Read more...

Popular Posts