Bài đọc nhiều

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cõi Thiền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cõi Thiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Trúc Lâm Viên - Cõi thiền tuyệt mỹ

0 nhận xét

Trúc Lâm Viên - Cõi thiền tuyệt mỹ

Cách Đà Lạt 15 km về phía Nam, khu du lịch Trúc Lâm Viên là viên ngọc sáng, điểm dừng chân lý tưởng cho du khách bở phong cảnh nên thơ, kiến trúc độc đáo.
Được khởi công xây dựng từ năm 2006, Trúc Lâm Viên đã chuyển mình từ một vùng đồi hoang sơ thành một cảnh quan tuyệt mỹ với nhiều hạng mục công trình quy mô, mang đậm nét văn hóa truyền thống nhưng không kém phần độc đáo.
Trúc Lâm Viên khoác lên mình tấm áo lộng lẫy của thiên nhiên được chăm chút kỹ lưỡng qua bàn tay nghệ thuật đầy sáng tạo của các nghệ nhân và cũng là gia chủ của gia trang hiền hòa và mến khách .
Từ núi Voi hùng vĩ, những mạch nước ngầm âm thầm hội tụ thành dòng suối Thanh Lương đổ xuống thác Bảy tầng như một nhạc khúc nghìn năm bất tận làm nao lòng thi nhân mặc khách khi đến vãng cảnh chốn này.
Hồ Định An in bóng Trúc lâm thiền viện

“Trên dòng nước mát thác Thanh Lương. 
Vọng lại âm thanh thật diệu kỳ, 
Bóng bọt tung bay trên phiến đá. 
Nghìn năm nhạc khúc nước trôi đi”.

Hồ Định An in bóng Trúc lâm thiền viện

Hồ Định An in bóng Trúc lâm thiền viện 
Đan xen với những công trình xây dựng mỹ thuật là biết bao tiểu cảnh, cây kiểng, bonsai, hòn non bộ, thác nước nhân tạo hay Thạch Hoa viên với vô vàn những kỳ hoa dị thảo giữa sa thạch hàng ngàn năm tuổi, tất cả hòa quyện với nhau tạo nên một bức tranh thủy mặc sống động.
Hòa mình giữa thắng cảnh thiên nhiên hữu tình, non xanh nước biếc, thả hồn theo rừng thông đỏ vi vu hòa lẫn tiếng suối reo bên sườn núi Voi hùng vĩ ...
 
Hòa mình giữa thắng cảnh thiên nhiên hữu tình, non xanh nước biếc

Du khách có thể thưởng thức nét văn hóa độc nhất vô nhị trên cao nguyên Trúc Lâm Viên như thưởng thức trà đạo tại vườn đá cảnh Nhật Bản với những khối đá, những bộ bàn ghế được chế tác công phu nhập nguyên bộ từ đất nước hoa anh đào hay đắm mình trước những tác phẩm tranh thêu tay nghệ thuật, độc đáo với kỹ thuật thêu nổi bằng chỉ tơ  tằm trên nền tơ lụa, cảm nhận nét tinh tế mang đậm bản sắc văn hóa Việt và kỹ xảo thiêu hoa của các nghệ nhân Trần Lê Gia Trang...
Cảm nhận khung cảnh yên tĩnh thanh bình của thiên nhiên tươi đẹp và hòa mình vào hơi thở trong lành của vùng cao nguyên lãng mạn, du khách sẽ cảm thấy lòng mình  lắng đọng sau những lo toan mệt mỏi của cuộc sống chốn thành thị.
Nhẹ  bước vào cõi thiền mênh mang tĩnh cùng Thất Tuệ Hiền tại trung tâm Trúc Lâm Viên.

Thất Tuề Hiền tĩnh lặng tại một góc Hồ  Định An

Thất Tuề Hiền tĩnh lặng tại một góc Hồ  Định An

Một góc trà đạo với vườn đá cảnh Nhật Bản  độc đáo

Một góc trà đạo với vườn đá cảnh Nhật Bản  độc đáo 
Từ trên đỉnh cao đồi vọng cảnh của khu du lịch, du khách có  thể phóng tầm mắt nhìn bao quát cả một khu đồi bạt ngàn cây xanh, như thể đang đứng trước một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, lắng lòng thiền định với một bức tranh sơn thủy đầy màu sắc và một không gian yên tĩnh để cảm nhận được tấm lòng của người nghệ nhân đã sáng tạo ra tuyệt tác này.

 Những chú cá Koi vẽ nên bảng màu sinh động trên mặc Hồ Định An

 Những chú cá Koi vẽ nên bảng màu sinh động trên mặc Hồ Định An
 
Với cảnh quan tuyệt đẹp và khí hậu trong lành được thiên nhiên ưu đãi, cùng với sự đi lên của một thành phố Đà Lạt thơ mộng, khu du lịch văn hóa - nghệ thuật Trần Lê Gia Trang sẽ là một địa chỉ quen thuộc, để lại ấn tượng khó phai trong lòng du khách bốn phương mỗi khi có dịp dừng chân trên phố núi đầy sương để thưởng ngoạn chốn này...

Read more...

Cõi hiếu trong cõi Thiền

0 nhận xét

Cõi hiếu trong cõi Thiền
Giác Ngộ - Xem ra bước vào cửa thiền là bước vào cửa hiếu, cửa hiếu cũng là cửa tỉnh thức, cửa chơn không diệu hữu. Nơi đó mỗi người luôn cất lên tiếng nói yêu thương và hiểu biết.
“Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền”.

Xem ra bước vào cửa thiền là bước vào cửa hiếu, cửa hiếu cũng là cửa tỉnh thức, cửa chơn không diệu hữu. Nơi đó mỗi người luôn cất lên tiếng nói yêu thương và hiểu biết. Thế nên, đã là người đệ tử Phật thì suy cho cùng, bạn phải phát tâm thực thi sống theo hạnh của Phật. Mà hạnh Phật được thiết lập khởi đầu bằng tâm hiếu hạnh như Đức Phật từng dạy: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”.


coihieu.jpg
Ảnh minh họa

Huống chi, trong kinh Tương ưng, Phật còn bảo:“Vô thỉ luân hồi, tất cả chúng sinh từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị, là bà con quyến thuộc trong các nẻo đường sinh tử”. Chính từ Phật ngôn này mà con người hướng tâm đến giải thoát khổ đau cho nhau. Bởi vì trên cõi đời ai cũng được sinh ra và lớn lên, trưởng thành cho đến việc xuất gia, tu hành thành đạo đều bắt đầu từ tâm hiếu hạnh. Và như vậy, từ cõi đời trần tục, mọi người có thể chuyển hóa thực thi tâm hiếu hạnh để chuyển hóa thành cõi Thiền thanh tịnh. 

Lễ hội Vu lan - rằm tháng Bảy hàng năm là dịp con người có cơ hội và điều kiện làm hóa hiện tâm hiếu hạnh. Bất kể là ai, dù ở vị trí nào, sinh sống ở đâu cũng có thể làm cho dòng suối yêu thương được tuôn chảy trong dòng sống vốn luôn nhiệm mầu. Nó có thể kết nối yêu thương từ trong quá khứ, tiếp diễn trong hiện tại và định hướng cho tương lai để thiết lập một đời sống an lạc, hạnh phúc mang tính vững bền cho tất cả ai hiện hữu trên cõi đời này.

Chính lẽ đó, mà Đức Phật đã xuất gia, tu hành, tự thân chứng ngộ, thuyết pháp độ sinh không chỉ để báo hiếu cho cha mẹ của Ngài mà còn muốn khuyến cáo mọi người hãy vì ân sinh thành của cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp mà chuyển hóa thân tâm, tu hành là báo hiếu một cách trọn vẹn, ý nghĩa cao quý nhất. Nếu không làm như thế thì mỗi cá nhân hiện hữu ở cõi đời không bao giờ báo hiếu được cha mẹ.

Ta chẳng ngạc nhiên gì, Bản kinh Tăng nhất A hàm ghi lại lời dạy của Phật về công ơn sâu dày của cha mẹ thật cao hơn trời, sâu hơn biển cả, đồng thời khuyên con người phải biết tri ân và báo ân với cha mẹ: “Này các thầy Tỳ kheo, nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa nghìn dặm, cung phụng đầy đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn đệm và thuốc thang, thậm chí cho cha mẹ có tiểu tiện trên vai mình đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu. Các thầy phải hiểu rằng ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế mà biết ân khó trả. Này các thầy Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công đức lớn, được quả báo lớn, đó là phụng sự cha và phụng sự mẹ”.

Trong cõi đời đầy biến động vô thường, khi mà con người còn phải đối diện biết bao nhiêu vấn đề từ cơm áo gạo tiền, cho đến các vấn đề phức tạp khác, vấn đề phụng sự mẹ cha lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Thực tế minh chứng như thế, con người mỗi khi giáp mặt khổ đau thì mới có cơ hội biết kết nối yêu thương để mong cầu sống trong sự bình an nội tại. Vì suy cho cùng, báo hiếu cho cha mẹ chính là báo hiếu cho mọi người, cho quốc gia, cho đồng bào, cho quê hương xứ sở. Lý Duyên khởi xưa kia Phật chứng ngộ đã minh thuyết cho sự thật này như là một chân lý, bởi vì không ai có thể sống một mình mà tồn tại và phát triển, con người cần nương tựa vào nhau, trong ý niệm ai cũng từng làm cha, làm mẹ, làm anh, làm chị trong dòng sống tương tục. 

Cho nên, bạn đừng bao giờ có ý nghĩ chỉ khi mình trở thành người giàu có mới có điều kiện phụng sự cha mẹ của mình. Cửa Thiền là cửa Không, ngay cả khi bạn không có gì vẫn có thể báo đáp ân đức cha mẹ, vấn đề là bạn có chuyển hóa tâm thức hay không trong giai trình đi về miền đất an lạc. Xưa kia, Phật từng lễ lạy đống xương khô bên đường mà cũng chuyển hóa đại bi tâm biết bao nhiêu con người trở về suối nguồn thực thi hiếu hạnh. Các vị thiền sư, sống một đời sống không gia đình, không tài sản, thế mà các ngài vẫn báo hiếu cho cha mẹ một cách thiết thực và hữu hiệu mang các giá trị rất nhân văn nhưng trên hết là đem lại giá trị giải thoát tự thân cho cha mẹ của các ngài. 

Chắc bạn còn nhớ câu chuyên ngài Lục tổ Huệ Năng (638 - 713) trong kinh Pháp Bảo đàn ghi nhận. Ngài vốn xuất thân là một người nghèo khổ, khi còn ấu thơ đã sớm mồ côi cha, lớn lên chỉ còn mẹ già. Do đó, hàng ngày, Tổ phải lên núi đốn củi rồi gánh ra chợ bán, đổi lấy gạo đem về nuôi mẹ. Một hôm, nghe người ta tụng kinh Kim cương, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mà Tổ bừng tỉnh. 

Vì vậy, Tổ nghĩ rằng, chỉ về xin phép mẹ xuất gia tại núi Hoàng Mai, thọ giáo với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn mới may ra có cơ duyên báo hiếu cho mẹ cha rốt ráo được. Nhưng Tổ chợt nghĩ, mình còn mẹ già thì ai phụng dưỡng đây, nên lòng còn chần chừ, chưa nỡ xuất gia hành đạo. Bỗng dưng, có người hiểu được tâm nguyện của Tổ, liền trợ giúp 10 lượng bạc và hứa thay mặt Tổ trông nom phụng dưỡng mẹ già cho đến mãn phần. Nhờ thế, Tổ an tâm tu học, về sau chứng đạo trở thành bậc Long tượng của rừng Thiền, không chỉ độ cho mẹ cha của mình mà còn chuyển hóa tâm thức biết bao nhiêu người khác trong cuộc đời sinh tử trầm luân này.

Từ câu chuyện này, có thể hiểu rằng, khi bạn khởi tâm hiếu hạnh đến với mẹ cha thì bạn sẽ thọ nhận sự an lành đến với chính mình, có khi nó còn quyết định được một đời sống tốt đẹp hơn cho cả người thân của bạn sau này. Chỉ cần một nén hương lòng với tâm thành kính hướng nghĩ về mẹ cha là bạn cũng có khả năng thực thi được một công đức lớn, một lợi ích lớn trong cõi đời này. 

Đó là công đức hiếu hạnh mà Tổ sư Thiền Trung Hoa thành tựu. Còn ở Việt Nam, xưa kia cũng có ngài Liễu Quán nhờ công hạnh báo hiếu mà chứng đạt sở nguyện của mình. Ngài Liễu Quán mồ côi mẹ lúc còn 6 tuổi, thân phụ liền gởi ngài vào chùa Hội Tôn, cho thọ giáo với Hòa thượng Tế Viên. Sau 7 năm sống tu hành ở cửa Thiền thì Hòa thượng bổn sư viên tịch. Sư đành lòng khăn gói, băng rừng lội suối ra Thuận Hóa (Huế) để thọ học với ngài Giác Phong thiền sư chùa Báo Quốc. Năm sau, nghe tin cha già lâm bệnh, không có người săn sóc, sư liền trở về nhà, hàng ngày lên rừng đốn củi, dành dụm tiền nong để đổi gạo nuôi cha già, nguyện cầu cho cha yên lành, thể hiện chí nguyện hiếu tâm là hiếu Phật. 

Rõ ràng, phụng dưỡng mẹ cha hiện tiền chính là phụng thờ Phật sống ở đời. Cho nên, sư quyết tâm hầu hạ thân phụ cho đến khi qua đời mới trở về sơn lâm. Chính nhân duyên này, đã trợ duyên cho thành tựu công đức hiếu hạnh, tức là thành tựu hạnh nguyện tu tập giải thoát. Về sau, sư Liễu Quán trở thành Tổ sư của một dòng Thiền, có ảnh hưởng rất lớn trong giới Thiền và cả trong giới hoàng tộc trong việc phò vua giúp nước, và phát triển đạo Thiền.

Ngoài ra, còn nhiều gương hiếu hạnh nữa trong cửa Thiền ở nước ta. Thiền sư Huyền Quang đời Trần là một minh chứng cụ thể. Khi chưa xuất gia, sư là một vị trạng nguyên xuất chúng, làm quan, nhưng lại chán ngấy chốn quan trường đầy nhiễu nhương, phức tạp của bụi trần. Lòng sư luôn tự hỏi, cuộc đời sao mà lắm sự chua cay nghiệt ngã, sao có người xem phú quý vinh hoa như mục đích tối thượng mà tranh chấp không hướng nghĩ đến tình thân cha mẹ, anh em, bà con ruột thịt, dẫn đến khổ đau hệ lụy mãi hoài… 

Một hôm, sư Huyền Quang theo vua đến chùa Vĩnh Nghiêm tham dự pháp hội, thấy Quốc sư Pháp Loa đang diễn thuyết hoằng hóa độ sinh mà nhớ lại chuyện xưa, bèn than rằng: “Làm quan lên bồng đảo, đắc đạo đến Phổ Đà; trên cõi nhân gian là Tiên, cảnh giới Tây phương là Phật. Phú quý vinh hoa nào khác chi lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên lưu luyến mãi hoài”. Thế rồi, sư dâng biểu xin vua từ quan, xuất gia hành đạo. 

Cho đến khi, bỗng nghe tiếng chim khách kêu vang trên cành ở trước sân, sư chạnh lòng nhớ nghĩ đến cha mẹ hiện đang già yếu, nhất là công ơn sinh thành cao như núi, sâu như biển khơi, liền sửa soạn hành trang về cố hương hầu thăm cha mẹ. Đến nơi, sư nhìn thấy cha mẹ còn khỏe mạnh và biết thêm cha mẹ của mình rất tín tâm với Tam bảo nên lòng rất hoan hỷ. 

Nhân đó, ngôi chùa có tên là Đại Bi được hình thành từ nơi mảnh đất gần nhà của song thân, trong ý nghĩa tiếng kinh cầu vang lên “Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát cứu độ cha mẹ hướng về Phật đạo”. Từ đó, không chỉ có cha mẹ của sư được diễm phúc hàng ngày được tụng kinh, niệm Phật, làm các việc công đức cho bá tánh mà dân làng còn được nghe thuyết giảng của các sư, thực hành Chánh pháp, sống có ích cho đời, làm hưng thịnh Phật pháp. 

Rõ ràng, nơi nào có tâm hiếu được hóa hiện, nơi đó được đâm chồi kết trái của tình người tình đạo trong cuộc hành trình hướng về miền giải thoát khổ đau. Nơi đó chính là mảnh đất để cho giới đức, tâm đức, trí đức hóa hiện, mục đích là nhằm kết nối giai điệu yêu thương giữa người còn kẻ mất. Nó cũng góp phần bảo lưu mọi giá trị cao quý nhất trong dòng chảy văn hóa tình người được xuất phát từ trong văn hóa ứng xử giữa con người với con người; giữa con người với cộng đồng xã hội; giữa con người với thiên nhiên môi trường sống. 

Thế nên, bổn phận của mỗi cá nhân phải thực thi hiếu hạnh với mẹ cha, với mọi người như là một đạo lý sống giữa đời mà kinh Thi ca la việt ghi, bao gồm 5 điều: 

1. Cung kính và vâng lời cha mẹ.
2. Phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu.
3. Giữ gìn thanh danh và truyền thống gia đình.
4. Bảo quản tài sản do cha mẹ để lại.
5. Lo tang lễ chu đáo khi cha mẹ qua đời. 

Ngoài ra, Đức Phật còn đề cập bốn trách nhiệm để hướng dẫn cha mẹ sống đúng theo Chánh pháp: 

1. Nếu cha mẹ không có niềm tin, khuyến khích cha mẹ phát tâm tin tưởng Tam bảo.
2. Nếu cha mẹ xan tham, khuyên cha mẹ phát tâm bố thí.
3. Nếu cha mẹ làm ác thì khuyên cha mẹ hướng tâm làm việc thiện.
4. Nếu cha mẹ theo tà kiến thì khuyên cha mẹ theo chánh kiến. 

Và như thế, bạn đang hướng vọng về ngày hội Vu lan, ngày hội của văn hóa hiếu hạnh, chứa chan tình, đầy hương vị của giải thoát. Nếu xưa kia Mục Kiền Liên từng vì cha mẹ đọa lạc tam đồ, rồi cất lên tiếng kinh cầu nhờ oai lực của chư Tăng chú nguyện để giải thoát cho mẹ cha thì ngay từ bây giờ cõi Thiền lại mời gọi mọi người hãy khởi tâm thực thi hiếu hạnh tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của mình mà báo hiếu cho hai đấng sinh thành dưỡng dục. 

Có một điều đơn giản hết sức, nhưng giá trị yêu thương thì vô cùng tận, bạn cũng như tôi hãy để thì giờ ngắm kỹ dung nhan của mẹ cha thật lâu, rồi cất lên tiếng nói con yêu cha mẹ thật nhiều, nhất là nhiệt tâm tinh cần làm các thiện lành. Tại đây, mẹ cha hạnh phúc biết chừng nào! 

Còn như nếu ai mất mẹ hoặc cha thì xin hãy thắp nén hương lòng tưởng niệm về họ mà nguyện cầu Phật từ bi tiếp độ về miền đất an lành. Làm được như thế, Vu lan trở thành ngày đánh dấu sự trở về cội nguồn sống đúng Chính pháp mà đức Phật từng chỉ dạy cho mỗi người chúng ta hiện hữu ở cõi đời này. Cõi hiếu hóa thành cõi Phật ở đời.  
Thích Phước Đạt (Nguyệt san Giác Ngộ số Vu lan 185)
Read more...

Thiền, Có Nên Phát Động Phong Trào Thiền Chữa Bệnh Tại Việt Nam Không?

0 nhận xét

Thiền, Có Nên Phát Động Phong Trào Thiền Chữa Bệnh
Tại Việt Nam Không?





Thiền là làm lặng yên cái trí nhờ hít vô thở ra theo đúng kỹ thuật. Sự ích lợi của Thiền không thể nghĩ bàn, nó bao la vô tận, ai cũng biết Đức Phật đắc đạo là nhờ Thiền định.
Phật giáo Việt Nam, từ  khi  Tổ Tỳ Ni Na Lưu Chi sang truyền Đạo Phật (580-2012) tại VN, nay đã nghót nghét 1430 năm, gần 15  thế kỷ. Đạo Phật là Đạo Phổ Độ chúng sanh, cứu nhân độ thế cho nên các triều đại huy hoàng Việt Nam, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê ,Tây Sơn:  Mỗi chùa  đều có một bệnh xá Đông Y, Thuốc Nam, châm cứu để giúp đỡ cho nhân dân gặp khi trở trời, gió nghịch, nhất là dân bệnh nhân nghèo. Mãi đến khi Triều Nguyễn, nước Việt ta bị Thực dân Pháp đô hộ thì Đạo Phật bị kỳ thị, không được phát triển như trước nữa. Mặc dầu vậy “miếu rách quá miếu, nhưng thần linh vẩn còn”.  Và may thay phong trào chấn hưng Phật Giáo lại được nỡ rộ bừng lên giữa thế kỷ 20, được sự dìu dắt của Tổ Tố Liên, Bác sỹ  Lê Đình Thám và  sinh hoạt  Phong trào Gia đình Phật Tử với người anh cả cố Giáo sư Võ Đình Cường… Cho đến ngày nay qua bao thăng trầm, Phật Giáo Việt Nam đồng hành, đồng cam cùng Dân Tộc.
Trong những tháng qua, chúng tôi có theo dõi  trang nhà Giaodiemonline.com và phattuvietnam.net cũng như một số các webs khác thấy có 2 sự việc nổi bật do Tiến sỹ Cư Sỹ Hồng Quang đề xướng, chúng tôi lấy làm vui thích và suy tư:
1- Đề nghị  các chùa nên mở rộng lòng Từ bi, tiếp đón các học sinh từ các làng quê lên Tỉnh, thành phố, trong  mùa thi, để bớt gánh nặng chi phí cho gia đình các em.
2- Mở những khóa dạy thiền, để nâng cao sức khỏe cho đồng bào;  bởi Thiền là phương pháp Trị bệnh không những chữa thân bệnh mà can thiệp luôn cả tâm bệnh.
Vừa qua chúng tôi rất lấy làm vui sướng cảm khích bởi có một số chùa tại TP HCM, Hà Nội, Huế đã dang tay mở rộng lòng từ bi hưởng ứng lời thỉnh cầu này, nhất là HUẾ cái nôi  của Phật Giáo VN, chùa Từ Đàm, Trung Tâm Phật Giáo Huế, quí Thầy, quý Sư Cô đã đã nổ lực hết mình, chúng con rất khâm phục và trân trọng tán thán công đức. Tuy nhiên cũng có rất nhiều chùa đã im hơi lặng tiếng. Phật Tử chúng ta nghĩ gì về sự hời hợt này, đang lúc Tin lành, Ki-Tô giáo đang rầm rộ ào ạt truyền đạo tại VN?
Trở lại vấn đề  thứ hai THIỀN CHỮA BỆNH, Cư  sỹ Hồng Quang bao năm ở hải ngoại dày công nghiên cứu, sưu tầm, học hỏi, đúc kết, hệ thống lại Phương pháp THIỀN CHỮA BỆNH  và đang cổ động mở những lớp đào tạo tại Việt Nam. Chúng tôi thiết nghĩ vị cư sĩ này đang làm một việc mà các triều đại trước đây đã làm: Đó là đạo Phật nâng cao sức khỏe cho toàn dân.
Ngày xưa, mỗi chùa là mỗi bệnh xá Đông Y, thuốc Nam, châm cứu. Ngày nay, mỗi một Phật Tử nên là một Lương Y tự trị bệnh cho chính mình và cứu độ tha nhân, bằng phương pháp THIỀN TRỊ BỆNH.
Hiện nay tại Hoa Kỳ cũng như các Quốc gia tiên tiến khác đều đưa Thiền vào Y Tế để chữa trị bệnh nhân. Chúng tôi có ghé qua Portland Hospital, bang Oregon Hoa kỳ. Tại bệnh viện này có riêng một khoa chuyên về Thiền trị bệnh. Tại Cọng hòa Liên bang Đức, thành phố Tuebingen chữa bệnh bằng Thiền và có luôn máy phân hình và đo hoạt động của não bộ PET (Positron Emission Tomography).

Ni Sư Tường Liên Viện Trưởng Thiền Viện MĐQ  TP Houston,
đang tham quan máy Đo Hoạt Động Não tại Tuebingen/Germany.

Hiện nay phong trào Học Thiền rầm rộ phát triển khắp nơi. Con gái Đại tướng Westmoreland quy y theo đạo Phật ăn chay ngồi thiền, vợ chồng phó Tổng Thống  Gore  cũng ngồi Thiền, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama cũng ngồi thiền để nâng cao sức khỏe và giải tõa những căng thẳng.
Vậy Thiền là gì? Lợi ích của Thiền như thế nào ? 
Nói một cách giản dị: Thiền là làm lặng yên cái trí nhờ hít vô thở ra theo đúng kỹ thuật. Sự ích lợi của Thiền không thể nghĩ bàn, nó bao la vô tận, ai cũng biết Đức Phật đắc đạo là nhờ Thiền định.
Không có Thiền  thì không có Phật Giáo.  Tác dụng của Thiền làm bộ óc tăng thêm chất xám, sáng tạo, tâm trí vui vẻ, thanh tịnh, giải tõa những căng thẳng lo âu, phiền muộn.


Đi tìm Giác ngộ: Cựu Tổng thống Bill Clinton đã 
tập Thiền để được thư giãn 

Thông tấn Radaronline dẫn một nguồn tin nói rằng: "Từ khi bệnh tim gây ra nỗi kinh hoàn cho ông ta, cựu Tổng thống Bill Clinton đã tìm nhiều cách để giúp ông thư giãn. Ông ta có đời sống bận rộn, đi lại nhiều trong cương vị làm đặc sứ cho Hoa Kỳ, và cần phải giữ đầu óc cho minh mẫn. Thiền tập đã cung ứng cho ông điều đó, ông ta có một câu thần chú (mantra) mà ông thích tụng lên, và sau mỗi thời Thiền tập, ông cảm thấy được chuyển hóa và đầy năng lực tích cực. Thiền hiển nhiên đã cho ông ta một thế giới tốt lành -- ông cảm thấy thích hợp hơn và mạnh mẽ hơn bao giờ hết."

Hình mô tả chất xám gia tăng nhờ ngồi thiền
                     
Cũng trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỉ 21 này, một số nhà khoa học và nhất là các nhà sinh lý học, giải phẩu học và cơ thể học đã khởi động đào sâu, xoáy mạnh nghiên cứu rộng sâu hơn về vai trò kỳ diệu của một số cơ quan, huyệt mạch hoặc những vùng trong não bộ con người;  như Tuyến Tùng Pineal gland nằm sâu trong não có một vai trò hết sức quan trọng về sự phát triển sức khỏe cũng như tâm linh.


 Nghiên cứu cho thấy khi một người có tâm loạn động, giận dữ, hệ thống NÃO sản xuất ra chất Độc tố : Nori (Norepinephrine). Chất độc này như thuốc rầy vậy, làm tinh thần căng thẳng (Stress). Các nhà tâm sinh lý học nghiên cứu cho thấy 60% bệnh lý là do stress tạo ra.  Nhờ thiền định giải tõa nhanh Stress.                      
Máy  PET cũng cho biết, nghiên cứu Y Tế  Khoa học cũng cho thấy khi ngồi Thiền những tác dụng của hệ thống não bộ sản xuất ra những kháng chất:
DOPAMINE: khống chế các tế bào ung thư và trị được những bệnh quái ác.
MELATONIN: Tăng chất xám, bổ não, củng cố bộ óc.
ENDORPHINS: Chất giảm đau
ACETYLCHOLINE: làm điều hòa lục phủ, ngũ tạng, cơ thể linh hoạt
INTERFERON: Do tế bào cơ thể sanh ra, ngăn ngừa không cho các viruses  phát triển chống Ung thư. Và nhiều kháng chất nữa. Các kháng chất này, các nhà khoa học gọi chung là PNI: PSYCHONEUROMIMUNOLOGY,  tạm dịch:  Năng Lượng Tinh Thần, hoặc là:  Năng Lượng Siêu  nhiên.



                                        (Những hình ảnh này do Ni Sư Tường Liên cung cấp)

“ Khoa học chứng minh rằng, Thiền đem lại sự quân bình cho cả hai phần phải và trái của khối óc, quân bình các mảnh lực âm dương trong cơ thể. Tài liệu khoa học nghiên cứu cũng cho thấy, mối tương quan giữa thiền định và sự rung động của bộ óc như sau:  Hãy tưởng tượng bạn đang làm việc trong sở, có nhiều vấn đề, như bị chủ la rầy, có nhiều vấn đề cần giải quyết, đầu óc bạn bối rối, bực bội, rồi điện thoại reo, bạn phải trả lời, trả lời chưa xong điện thoại khác lại reo lên nữa, văn thơ đưa tới, nhìn vào thời khóa biểu, sẵn có buổi  họp xãy ra trong vài phút, bạn lo lắng, việc trong sở, việc tại nhà v.v…. Trong tình trạng đó nếu có 1 máy đo Điện não đồ ELEC trocephalograph đo mức rung động làn sóng trong óc bạn thì máy EG ghi nhận sự rung động ở mức 22 chu kỳ trong một giây hay ở mức BETA.  Sau  khi  đi làm trở về nhà ăn uống, tắm rửa nghỉ ngơi thoải mái cho xã giãn thì rung động ở óc sẽ hạ thấp xuống khoảng 10 chu kỳ trong 1 giây hay ở mức ALPHA.
Nếu tham thiền tập trung tư  tưởng vào một hình ảnh đẹp như 1 bông hoa, một câu thần chú, hay quán niệm hơi thở, thể xác bạn ngồi yên bất động, tâm trí lăng yên, không bị những tư tưởng lộn xộn, xâm nhập thì mức độ rung động của làn sóng trí óc sẽ được ghi nhận khoảng 4 chu kỳ trong 1 giây hay ở mức THETA .  Nếu bạn là một hành giả đã thiền định nhiều năm, nhập thiền dễ dàng, mức tập trung hoàn hảo đạt đến trạng thái hòa nhập trọn vẹn, không còn phân biệt chủ thể hay đối tượng thì mức rung động của bộ óc sẽ vào khoãng 2 chu kỳ trong 1 giây hay ở mức DELTA.  Khi nhập vào trạng thái siêu đẳng  của Đại  Định (SAMADHI) toàn thân đắm chìm  trong an lạc tuyệt vời, bỏ lại đàng sau cái giới hạn vật chất, thì tiến đến mức ra ngoài DELTA, ra ngoài tầm mức mà kỷ thuật não điện đồ EG không còn đo được nữa.
Tình  trạng tâm thức siêu đẳng này thì chỉ người đã đạt đến trạng thái đó mới biết, lúc đó  Chân ngã cảm nhận được nó.”  (THIỀN ĐỊNH VÀ KHOA HỌC . Darshani Deane/ Nguyên Phong.)
                        
Như vậy,  Thiền định tháo gỡ các tấm màn vô minh, vẩn che mắt chúng ta, từ bao lâu nay, để biết chính mình thực sự là ai, đồng thời khi ta làm chủ được cái tâm thì cánh cửa sức khỏe tự nhiên được bật tung ra. Do đó, đứng vào góc độ khoa học Thiền mang lại sức khỏe làm cho trí tuệ được thăng hoa, sáng tạo, thông minh hơn, đặc biệt giảm y phí cho đồng bào, bớt gánh nặng Y Tế cho nhà nước…
Trên cơ sở Khoa học đó, chúng tôi xin phép đề nghị Quý chư Tôn Đức giáo phẩm lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, 1750 Quý  Sư  Trú trì của 1750 ngôi chùa của cả nước, tạo điều kiện cho phong trào  THIỀN TRỊ  BỆNH sớm  khởi động nhịp nhàng cho cả 3 miên đất nước, cũng xin phép đề nghị  Quý Chư Tôn Đức  Tăng Ni  Hải ngoại, các hội từ thiện Phật giáo trong và ngoài nước, quý Phật Tử  và quý vị  có tinh thần quý mến Phật Giáo, xin hổ trợ, trợ duyên cho PHONG TRÀO THIỀN CHỮA BỆNH thiết thực này, sớm gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp, để Phật giáo Việt Nam  có vị trí tốt hơn nữa trong cộng đồng Phật Giáo thế giới.
Có lẽ đây là bước đột phá hoằng pháp thiết thực, cấp bách đối với Phật Giáo Việt  Nam trong những ngày của thế kỷ 21.
Cầu cho vạn vật thái bình, chúng sanh an lạc.
TP  Houston,  2012. tháng 12 PL 2556. Việt Lịch 4891.
Huệ Lộc
Read more...

Dấu xưa cõi thiền

0 nhận xét

Dấu xưa cõi thiền
    Dấu xưa cõi thiền
    Thượng tọa Thích Viên Thanh và Phật tử.
    Tiếng rằng quen biết với nhà sư Thích Viên Thanh đã lâu nhưng quả thực là chuyện về “kho” thông điệp quá khứ đậm chất thiền nơi cửa Phật do thầy làm trụ trì – chùa Vạn Hạnh (39 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, Đà Lạt, Lâm Đồng) – có từ vài chục năm nay thì đến mãi tận vài năm gần đây tôi mới được thấy tận mắt.
    Sau đó, tôi năng đến chùa Vạn Hạnh hơn, nhưng cứ mỗi lần đến là một lần tôi có cảm giác rằng hình như mình vẫn không biết gì về dấu xưa nơi cõi thiền kia!
    Gốc gác của nhà sư Thích Viên Thanh là người Quảng Ngãi. Nhưng, gia đình ông vào “mần vườn” ở xứ Đà Lạt này từ lâu lắm rồi. Xuất gia năm 14 tuổi, là đệ tử của cố hòa thượng Thích Từ Mãn (trụ trì chùa Linh Sơn – một ngôi chùa rất nổi tiếng ở Đà Lạt); năm hơn 30 tuổi, ông theo học cử nhân Phật học rồi cao cấp Phật học tại TP Hồ Chí Minh… 
    Chất nghệ sĩ đồng hành cùng Phật sự
    “Ngày tôi về trụ trì, chùa Vạn Hạnh là một ngôi nhà tôn vách gạch nho nhỏ nằm trên đồi thông rộng bao la này. Cuối năm 1994, thiền viện Vạn Hạnh được làm lễ đặt đá xây dựng lại. Sau đó, đến năm 2002, Thích Ca Phật đài lộ thiên cao 24m và nặng trên 60 tấn được xây dựng ngay trước sân chùa” – thượng tọa Thích Viên Thanh vắn tắt vài dòng về thiền viện Vạn Hạnh nơi mình đang là trụ trì.
    Đặc biệt, tượng Phật Thích Ca niêm hoa vi tiếu (theo tích kinh điển của phái Thiền Tông) nổi tiếng này do ông chỉ đạo thiết kế và nhà điêu khắc Thùy Lam thực hiện. Nói ra điều này để thấy rằng cái “máu nghệ sĩ” trong con người nhà tu hành này dường như cũng đang song hành cùng chất nhà Phật trong Phật sự mà ông đảm đương trong mấy chục năm qua, từ chú tiểu đến đại đức rồi đến thượng tọa; từ một Phật tử bình thường đến trụ trì rồi Phó Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Lâm Đồng, Chánh đại diện Phật giáo TP Đà Lạt và đồng thời là Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp Phật học Lâm Đồng hiện nay.
    Thật vậy, cái “máu nghệ sĩ” ấy “chảy” suốt chiều dài con đường Phật sự của ông, nhưng chỉ đến khi những tác phẩm nghệ thuật được công bố nhân dịp Festival Hoa năm 2010 thì mọi người mới nhận ra một “thượng tọa – nghệ sĩ” Thích Viên Thanh! Ông thổ lộ: “Tôi sưu tầm cổ vật không để trở thành một nhà sưu tầm. Tôi làm việc này đã hơn ba chục năm qua nhưng chỉ duy nhất có một mục đích là làm thế nào để lớp cháu con ta sau này biết được cha ông đã sống ra sao, đã ứng xử ra sao, đã yêu thương nhau như thế nào... mà thôi!”.
    Ông kể trong khi đưa tôi đi thăm lại gian trưng bày: “Những hơn 5.000 hiện vật, trong đó có một số cổ vật, sưu tầm được nhưng chỉ được trưng bày trong gian phòng rộng chỉ vài trăm mét vuông như thế này xem ra đã chật chội rồi đây. Do vậy, sắp đến, tôi muốn làm một điều gì đó khác hơn để... giải phóng những hiện vật này. Ước mong của tôi là sẽ hình thành ngay trong khuôn viên chùa Vạn Hạnh này một khu văn hóa Phật giáo và dân tộc; trong đó, lấy việc trưng bày các cổ vật và những tác phẩm nghệ thuật tôn giáo làm chủ đạo”.
    Bức tượng Phật Thích Ca niêm hoa vi tiếu do thượng tọa Thích Viên Thanh chỉ đạo thiết kế.
    Thông điệp từ quá khứ
    Như trên vừa nói, vài năm gần đây, thiền viện Vạn Hạnh khá nổi tiếng với tượng Phật Thích Ca “Niêm Hoa Vi Tiếu” được dựng ngoài trời, ngay trước sân chùa. Thầy Thích Viên Thanh giải thích cho tôi rõ hơn: “Bảo tượng với tay phải cầm cánh hoa sen đó bắt nguồn từ một ý trong kinh điển của phái Thiền Tông rằng khi Đức Thế Tôn cầm một cánh sen đưa lên thì cả hội chúng đều im lặng và ngơ ngác nhìn, duy chỉ có ngài Ca Díp là mỉm cười.
    Thấy vậy, Đức Thế Tôn liền nói: “Ta có con mắt của chánh pháp, diệu tâm của niết bàn, thực tướng của vô tướng, pháp này siêu việt ngôn, từ nay ta truyền trao cho Ca Díp”. Tích này được gọi là “niêm hoa vi tiếu”. Bởi vậy, Thích Ca Phật đài kia được gọi là Phật Thích Ca Niêm Hoa Vi Tiếu”.
    Thích Ca Phật đài trước sân chùa Vạn Hạnh từ khi khánh thành đến nay đã thu hút không chỉ các tăng ni, Phật tử khắp cả nước mà còn là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước với tâm nguyện chiêm bái và ngưỡng vọng. Và cũng như tôi, nhiều người đã ngỡ ngàng khi ra phía sau bảo tượng Phật Thích Ca Niêm Hoa Vi Tiếu để thăm khu trưng bày trên dưới 5.000 hiện vật do nhà sư Thích Viên Thanh và các đệ tử sưu tầm và cả việc chiêm bái các tác phẩm nghệ thuật đậm sắc thiền do nhà sư Thích Viên Thanh tạo tác.
    Bộ sưu tập trên dưới 5.000 hiện vật, trong đó có những cổ vật, của nhà chùa có thể phân định bằng chất liệu: Nhiều nhất và quý nhất là những hiện vật bằng đồng, thứ đến là bằng đá và bằng gỗ. Với bộ sưu tập đồ đồng, quá vãng của người Đà Lạt xưa, kể cả các bộ tộc thiểu số bản địa, như hiện về từ vài chục năm trước, từ vài trăm năm trước thông qua những nồi đồng, mâm đồng, cơi trầu bằng đồng, lư nhang đồng, lư đèn đồng, cồng chiêng bằng đồng... có “tuổi” từ vài chục năm đến vài trăm năm.
    Và không chỉ quá vãng của Đà Lạt mà còn hơn thế: Hồn Việt hiện về trong căn phòng trưng bày này! Những bộ cồng chiêng bằng đồng được ông dành cho sự ưu ái đặc biệt khi đặt trang trọng thành một dãy phía trái gian phòng. Tôi lần nữa nhìn lại những bộ chiêng của các tộc người thiểu số Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) được ông sưu tầm. Có chiếc có đường kính lên đến gần cả mét, tuổi những trăm năm; chiếc nhỏ chỉ vài centimet đặt cạnh mấy cái não bạt!
    “Ngoài những đại hồng chung cổ xưa có giá trị khó mà đo đếm được thì những nồi đồng con con dùng để kho cá đến “đại nồi đồng” dùng để nấu cơm vào các dịp hội làng xưa của cư dân Đà Lạt lại có những giá trị riêng, những giá trị thật khó đo đếm bằng vật chất” - ông bảo.
    Về bộ sưu tập đá, Thượng tọa Thích Viên Thanh tiết lộ: “Suốt mấy chục năm qua, bộ sưu tập đá thạch anh này yên vị sau mấy cánh cửa thường xuyên đóng khóa. Đến năm 2010, nhân Festival Hoa Đà Lạt, nhà chùa mới mở cửa kho đá quý để giới thiệu với công chúng”.
    Việc “trưng bày” năm ấy cũng chỉ là giới thiệu một phần rất nhỏ của kho đá quý mà Vạn Hạnh đang sở hữu. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng không chỉ nằm ở chỗ những viên đá ấy quý như thế nào (đá thạch anh) và số lượng đá trong “kho” ấy nhiều đến mức nào (hàng ngàn viên) mà chính là “ý tưởng nghệ thuật” của những tác phẩm do ông tự tạo hoặc nương vào tự nhiên mà sáng tác.
    Thiên nhiên thật kỳ diệu: Trong các tác phẩm đá tự nhiên trong “kho” của chùa Vạn Hạnh, ngoài những viên đá có hình các chữ “nhân, tâm, đức, ngộ, nhẫn...”, đáng kể còn là một viên đá có hình đức Phật Thích Ca với những đường vân rất đẹp. “Tìm được đá cũng là cái duyên vậy! Khối đá có những đường vân và màu sắc tạo thành hình đức Phật Thích Ca được tôi tìm thấy giữa một vùng rừng núi giáp ranh hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận.
    Tôi không “săn lùng” như những người chơi đá cảnh mà chỉ luôn giữ được tâm niệm trên con đường sưu tầm của mình để có được những tác phẩm mang chất thiền mà thôi. Khối đá có hình đức Phật Thích Ca nằm đó trước bàn chân qua lại của nhiều người nhưng đến lượt tôi ngang qua, tôi bỗng cảm thấy cần phải nhẹ bước bởi dường như chốn này có điều gì đó rất lạ. Và thế là khối đá “hiện lên” trong mắt tôi như bước ra từ cõi thiền” – ông kể.
    Không dừng lại ở việc sưu tầm đá, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh Thích Viên Thanh còn tạo tác không ít tác phẩm nghệ thuật từ đá như “Tượng Quan Âm”, “Anh hùng tương ngộ”, “Bản đồ Việt Nam”, “Tâm”, “Nhẫn”...
    Về gỗ, ngoài những tác phẩm nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo do tự nhiên chế tác, trong nhiều năm qua, thượng tọa Thích Viên Thanh cũng đã sáng tác nhiều tác phẩm từ vỏ thông, từ gốc rễ các loại cây như các tác phẩm “Bồ đề Đạt Ma”, “Phật thành đạo”... Cũng bằng chất liệu gỗ, ông hiện đang tạo tác “Đức Phật nhập niết bàn” với quy mô dài 8m theo dáng tượng Phật nằm. “Có thể, “Phật thành đạo” sẽ là tác phẩm trung tâm khi khu vườn văn hóa Phật giáo và dân tộc theo ý nguyện của tôi được hình thành nay mai trong khuôn viên Vạn Hạnh” – thượng tọa Thích Viên Thanh tiết lộ trước khi tôi chia tay thiền viện Vạn Hạnh để “xuống núi”.
    Cùng với các tác phẩm nghệ thuật đậm màu sắc thiền thì những bộ sưu tập đồ đồng, đồ đá và cả đồ gỗ của chùa Vạn Hạnh cũng đang chứa đựng rất nhiều những thông điệp của quá khứ, những thông điệp đang cần mọi người, nhất là các tăng ni, Phật tử và cả du khách khi đến Đà Lạt quan tâm khám phá, để thấy lòng mình thư thái bình an, khám phá để nhận diện những giá trị văn hóa dân tộc như dòng suối chảy từ quá khứ nguồn cội đến hiện tại và trải đến tương lai...
    Read more...

    Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”

    0 nhận xét
    Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”
      Thiền sư Pháp Hạnh: “Với tôi, hội hoạ là con đường đến vô ngã”
      Thiền sư Pháp Hạnh
      Một chị bạn đồng nghiệp nói với tôi, bằng tất cả lòng thành kính, rằng có một nhà tu hành đã vẽ hàng trăm bức tranh, rằng trong một đêm thầy vẽ cả trăm bức, mà không bán, không bày, chỉ để cho, để tặng. Chị tha thiết mời tôi đến xem như thể để chứng giám điều thần kỳ này. Nhưng trót là hoạ sĩ, tôi ít hào hứng trước những “kỷ lục” của hội hoạ. Lần lữa mãi, nhưng rồi cũng phải chịu thua trước lòng hâm mộ của chị.
      Và, thật bất ngờ, tôi được hội ngộ với một con người giản dị, bình an được ngắm nhìn những bức sơn dầu theo khuynh hướng trừu tượng không hề nghiệp dư chút nào. Câu chuyện của tôi với nhà tu hành, thiền sư Pháp Hạnh dường như không có nhiều màu sắc tôn giáo. Màu sắc của hội hoạ mới là chủ đề chính. Rồi từ đó, một thế giới mới mẻ được phát lộ, xoá nhoà mọi ý niệm vốn có của đạo pháp của cuộc đời.
      Quan niệm của thiền sư Pháp Hạnh về nghệ thuật về sự giải thoát gần gũi với cuộc đời hơn là sự huyền diệu bí ẩn nơi cửa Phật. Ông nhìn cuộc đời như đứa trẻ lần đầu nhìn thấy, có lẽ bởi vậy tranh ông có cái bản năng nguyên khôi như tranh trẻ thơ đùa bỡn với sắc màu.
      Xuất gia từ năm 14 tuổi, đã từng tu tập tại Miến Điện và Ấn Độ theo môn phái Mật tông Tây Tạng, nhưng trong câu chuyện, những giáo lý nhà Phật được ông diễn giải thật giản đơn, dễ hiểu. Ông giống như một nghệ sĩ hơn là nhà tu hành. Tôi hỏi ông lý do gì dẫn ông vào hội hoạ, ông cười rồi nói ngay:
      - Sự chuyển động trong tâm thức đã xui khiến tôi dùng sắc màu để mô tả. Nó đồng hành với chuyển động của trời đất của thiên nhiên. Tôi vẽ bằng cõi vô thức được hình thành qua rất nhiều ý thức. Và hình như bản chất của hội hoạ là vậy chăng.
      Bản chất của hội hoạ, theo tôi là con đường tìm về bản ngã chứ không phải đến cái vô ngã của đạo Phật. Vậy có gì là mâu thuẫn giữa hai mục đích đó trong cử chỉ hội hoạ của ông?
      - Chẳng có gì là mâu thuẫn cả, bản ngã chỉ là một phần triệu trong vô ngã. Tôi vẫn nghĩ hội hoạ đến ngưỡng cuối cùng chính là vô ngã. Người nghệ sĩ nào cũng đi trên con đường tìm về bản ngã để bộc lộ rõ nhất cá tính của mình, nhưng khi đã vẽ với tinh thần vô thường, không cần để chứng tỏ, cũng không cầu xấu, đẹp thì sẽ đạt đến cảm xúc vô ngã.
      Vậy, với ông, hội hoạ chỉ là phương tiện, là “pháp” để đi đến cảnh giới vô ngã?
      - Tôi không nghĩ cái gì là phương tiện, cái gì là mục đích. Tôi vẽ giống như hơi thở, như sự vận động không ngưng nghỉ để khám phá bản chất của tâm thức, loại trừ mọi chất bẩn còn tồn ứ. Và đấy cũng là một phương pháp tu tập.
      Để đi đến giải thoát?
      - Không, để đến với tự do.
      Vậy bản chất của tự do là gì, thưa ông?
      - Là buông bỏ, nhưng không phải buông bỏ quá khứ cũng không buông bỏ hiện tại. Buông bỏ những gì là tham sân si để rộng lòng tay đón nhận tương lai, đón nhận hiện tại một cách trọn vẹn nhất, không bị giam cầm bởi bất cứ chủ thuyết nào.
      Điều này hình như Osho cũng từng nói trong những cuốn sách của ngài. Ông có tâm đắc với Osho?
      - Osho là một trí tuệ lớn đáng khâm phục. Nhưng ngài vẫn thiếu một chút bao dung.
      Nói đến đây, ông bỗng dừng câu, lặng im một chút rồi ông kể: Có một đứa nhỏ, nhỏ lắm, đi bán vé số bị một bác xe thồ đụng ngã. Cả hai đều vội vã thu nhặt vé số vung vãi trên đường. Đứa trẻ bỗng lên tiếng rằng: “Con không sao đâu, bác cứ đi làm đi kẻo lỡ việc. Con tự nhặt được và cũng chỉ xây xát nhẹ thôi”. Ông bảo đứa bé đã dạy ông về lòng bao dung hơn cả ngàn trang sách. Và cũng đúng lúc đó ông bỗng nhìn ra một dải nắng vàng, trong suốt. Dải nắng đó đã theo ông vào những bức tranh mà đôi lúc ông tưởng như không phải ông đang vẽ mà đứa nhỏ kia mới là tác giả.
      Vậy mà ông lại vẽ theo khuynh hướng trừu tượng. Trong hội hoạ có tư duy trừu tượng mới có bút pháp trừu tượng. Và rằng phải có rất nhiều hiện thực mới có được tư duy trừu tượng. Nhưng với một nhà sư, ít va chạm với thực tế đời sống, như thế có dễ dàng hay khó khăn để đến với hội hoạ trừu tượng?
      - Tôi tìm thấy bình an trong hội hoạ và tôi mang sự bình an đến với mọi người. Tôi không định nghĩa đó là trừu tượng hay hiện thực.
      Tranh sơn dầu của thiền sư Pháp Hạnh.
      Nhưng ít nhất cũng phải có một thái độ trước một hiện thực khiến nhiều người bất bình, ví dụ như khoảng cách giàu nghèo như sự bất công, hoặc cái ác vẫn hiển nhiên tồn tại, thưa ông?
      - Sự cảm hoá của nghệ thuật là vô cùng lớn lao, hãy vẽ, làm thơ hay nhạc bằng tất cả sự thiện tâm của mình thì xã hội sẽ nhìn rõ hơn thiện, ác. Trong những điều răn dạy của Phật, có một điều mà tôi luôn tâm đắc, đó là hãy hết lòng yêu tổ quốc của mình cho dù còn có những căn bệnh phải mổ xẻ. Hãy yêu như yêu cha mẹ mình cả những khi người cha người mẹ đôi lúc cũng phạm lỗi. Tôi nghĩ tất cả mọi tôn giáo đều có chung ý nghĩa tối thượng này.
      Và có chung một khái niệm về thiên đường hoặc cõi niết bàn?
      - Thiên Chúa giáo dạy bảo con người lòng vị tha, sống tốt đời đẹp đạo để khi chết sẽ được lên thiên đàng. Phật dạy con người quy luật nhân quả và cõi niết bàn ở ngay chính trần gian này, ngay chính lòng mình. Mỗi người là một thế giới và Phật tính tại tâm.
      Nhiều người cho rằng nghệ thuật hay tôn giáo chính là con đường để con người trốn chạy nỗi cô đơn. Tôi không tin lắm vào điều này, bởi là một hoạ sĩ, chỉ khi cô đơn nhất mới có được tác phẩm. Với ông, trong thế giới tâm linh, sự cô đơn có ý nghĩa gì không?
      - Niết bàn chính là sự cô đơn tuyệt đối. Nhưng chớ nhầm giữa cô đơn và cô độc. Chỉ có sự cô đơn mới thanh lọc được tâm thức mình. Còn cô độc là nỗi bất hạnh của lòng ích kỷ.
      Nghe ông nói vậy, tôi bất giác ngắm kỹ những bức tranh treo đầy căn phòng ông đang ngồi. Hầu hết là những hoà sắc đầy ngẫu nhiên không thấy sự đắn đo, cân nhắc. Cũng không thấy buồn vui. Tất cả đều lặng lẽ trôi chảy như dòng đời vốn thế. Tôi trộm nghĩ phải cô đơn lắm mới có những sắc màu vô thức như vậy. Rồi những bức tranh sẽ trôi về đâu? Nhưng điều đó chắc không quan trọng. Cái có ý nghĩa hình như không nằm ở trên từng bức mà nó là sự vận động âm thầm ngoài tranh, nhắc cho người ta về lẽ vô thường của đời sống. Và chính điều này là chỗ gặp gỡ giữa nghệ thuật và tôn giáo.
      Trò chuyện với ông, tôi biết ông rất yêu cuộc đời này, nhưng vẫn khắc khoải một câu hỏi trong tôi rằng: Lẽ nào một khối óc minh mẫn, một trái tim nhạy cảm, một tấm lòng bao dung lại tìm đến nỗi cô đơn tuyệt đối để chiêm nghiệm sự thanh sạch của chính mình. Thì ra chúng ta, cả tôi nữa, quá thiếu đức tin để thấu hiểu cuộc hành trình của ông. Ông tự tìm đến tự do chứ không hưởng thụ tự do. Và như thế, trách nhiệm với cuộc đời của ông lớn hơn tôi quá nhiều.
      Read more...

      Popular Posts